3 Chậu Trồng Hoa , Cây Cảnh MONROVIA Màu Xanh 7Gal --- Danh mục --- Vật tư - Phụ kiện Máy nông nghiệp Thiết bị-Phương tiện Thực phẩm tươi Chế biến sẵn Chim - Cây - Cá - Chó Sản phẩm- Dịch vụ # For Foreign BUYERS Kỹ thuật - Công nghệ Nhà cửa - Đời sống Ngỗng cỏ hay còn gọi là ngỗng Sen là một giống ngỗng nhà nội địa có nguồn gốc ở Việt Nam, chúng được nuôi phổ biến ở Bắc Bộ, sau đó phân bố rộng rãi khắp cả nước. Ngỗng cỏ được nuôi nhiều ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ [1] [2]. Ngỗng cỏ chịu kham Chống vi sinh; Cây cỏ sữa lá nhỏ được coi là có hoạt tính chống vi khuẩn do có sự hiện diện của các alkaloid. Các vi khuẩn như Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus subtilis, Salmonella typhi, Staphylococcus aureus và Klebesiella pneumonia đã được thử nghiệm để cho thấy hoạt động chống vi khuẩn của loài thảo Cỏ lông heo. Cỏ nhung nhật. 2. Đặc tính sinh trưởng. Ngoài những điểm khác nhau về ngoại hình, hai loại cỏ này còn khác nhau về đặc tính sinh trưởng. Cỏ lông heo là loại cỏ chịu va đập tốt nên có thể trồng ở những khu vực đi lại nhiều (Ứng dụng trồng cho mặt sân Câu 1: Mục đích của việc vun xới là:A. Diệt cỏ dại.B. Diệt sâu, bệnh hại.C. Làm đất tơi xốp.D. Tăng bốc hơi nước.Câu 2: Ảnh miễn phí: bờ sông, sông, cỏ, cỏ cây, vùng đất ngập nước, cây, đất đai, cảnh quan, nước, thiên nhiên. 23SyhrU. Nếu bạn đã xác định được những ngọn cỏ bị cắt xén với nhiều lưỡi giống như ngón tay trong bãi cỏ của bạn, bạn sẽ cần điều tra làm thế nào để tiêu diệt ngỗng. Nhà máy có thể được thiết lập ngay cả trong đất cứng, nén và rất đàn hồi. Phiến lá dày rất khó cắt bằng máy cắt và thậm chí sau khi tỉa sát, cỏ sẽ trông rách rưới và không được chăm sóc nếu có lông ngỗng. Cây rõ ràng nhất là vào mùa hè ấm áp, nhưng có thể tồn tại vào mùa đông ở vùng ôn đới. Các lưỡi dày, thô ráp tỏa ra từ một khu vực trung tâm trong các mũi nhọn từ 2 đến 13. Mỗi lưỡi dao phẳng với răng cưa nhẹ ở các cạnh. Màu xanh ngọc lục bảo với các lưỡi cũ hơn mang một màu trắng trên các cạnh bị hư hỏng. Kiểm soát ngỗng trong bãi cỏ Kiểm soát ngỗng là điều cần thiết cho một bãi cỏ hấp dẫn. Cây khó khăn đòi hỏi sự cảnh giác để giữ cho đầu hạt giống hình thành. Giữ lưỡi cắt của máy cắt của bạn thật sắc nét để chúng có thể loại bỏ các hoa hồng ngoại trước khi chúng gieo hạt. Nước ngập và văn hóa cực đoan có thể thúc đẩy sự phát triển của cỏ dại. Những bãi cỏ loang lổ và những khu vực có lưu lượng chân lớn sẽ có số lượng ngỗng cao nhất. Việc kiểm soát ngỗng trong bãi cỏ phụ thuộc vào việc bảo trì đúng cách trước và trước khi xuất hiện hoặc sau khi xuất hiện hóa chất để bùng phát. Một cách đơn giản để giúp ngăn chặn cỏ dại là sục khí. Sục khí làm tăng độ xốp của mặt đất và ngăn cản sự hình thành của ngỗng. Kiểm soát cỏ dại Có một số loại thuốc diệt cỏ xuất hiện trước để kiểm soát cỏ ngỗng. Chúng hoặc được sử dụng đơn lẻ hoặc với các hóa chất khác. Công thức chính xác sẽ phụ thuộc vào loại sod trong bãi cỏ của bạn. Thuốc diệt cỏ sau khi xuất hiện rất hữu ích như các ứng dụng tại chỗ và có thể được sử dụng nhiều lần trong mùa để kiểm soát cỏ dại trước khi chúng gieo hạt. Hãy chắc chắn tham khảo nhãn của sản phẩm bạn chọn để kiểm soát cỏ dại. Làm thế nào để giết ngỗng Thực hiện theo tất cả các biện pháp phòng ngừa được khuyến nghị trên sản phẩm bạn sử dụng để kiểm soát cỏ dại. Hầu hết các loại thuốc diệt cỏ cần được áp dụng khi có thời gian khô để ngăn sản phẩm rửa sạch khỏi lưỡi cỏ. Nếu bạn đang sử dụng một ứng dụng phun để kiểm soát cỏ ngỗng trong các bãi cỏ, hãy áp dụng nó vào một ngày không có gió để tránh trôi dạt có thể giết chết các cây không phải mục tiêu. Thuốc diệt cỏ trước khi xuất hiện hoạt động tốt nhất nếu được áp dụng vào cuối mùa đông đến đầu mùa xuân khi nhiệt độ đất đạt 60 độ F 15 C. trong 24 ngày liên tiếp. Ghi chú Kiểm soát hóa học chỉ nên được sử dụng như là phương sách cuối cùng, vì các phương pháp hữu cơ thân thiện với môi trường hơn. – Ngỗng Cỏ phân bố rộng rãi khắp cả nước , đựơc nuôi nhiều ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.– Ngỗng Cỏ thân hình có cấu tạo vững chắc chắn , có dáng hình thoi phù hợp với việc đi nhanh và xa , tiết diện thân gần như tròn.– Ngỗng Cỏ có đầu nhỏ , cổ dài và mảnh. – Ở ngỗng đực có mào sừng hình tròn nằm ở gốc mỏ trên , mỏ có màu da cam , mắt màu xanh xám đen , bụng thu gọn , chân cao vừa phải chắc chắn. – Giống ngỗng Cỏ này có màu trắng rất hiếm , màu xám , màu xám đen. – Khi trưởng thành ngỗng đực nặng , ngỗng cái nặng Hướng dẫn nuôi ngỗng Cỏ 1. Chọn ngỗng con 1 ngày tuổi Ngỗng phải nở đúng ngày , khối lượng từ 85 – 100g/ lông phải bông , màu vàng chanh , mắt sáng không hở rốn , dáng đi nhanh nhẹn vững vàng. 2. Nhiệt độ nuôi ngỗng Cỏ Tuần 1 32 – 35 o C. Tuần 2 27 – 29 o C. Tuần 3 25 – 27 o C. Tuần 4 23 – 25 o C. – Đảm bảo nhiệt độ gột ngỗng trong những ngày mới nở và trong giai đợn gột ngỗng là yếu tố quan trọng đầu tiên giúp ngỗng con có sức đề kháng tốt. – Biện pháp sưởi ấm Có thể dùng lò sưởi bằng bóng điện 100W. – Nếu sử dụng trấu hoặc than cần phải chú ý để khói thoát ra ngoài tránh ngỗng con bị ngạt bởi thiếu O 2 và ngộ độc khí CO 2 . Cách tốt nhất nhận biết ngỗng có đủ ấm hay không là quan sát đàn ngỗng , khi thiếu nhiệt ngỗng bị lạnh sẽ nằm đè lên nhau , tụm lại thành từng đống , cần tăng cường nguồn nhiệt và che chắn chuồng nuôi để giữ nhiệt , đồng thời tách những ngỗng yếu để chăm sóc riêng. Khi quá nóng ngỗng sẽ tránh xa nguồn nhiệt. Khi bị lạnh ngỗng con dạt về một phía , nằm cụm thành từng nhóm , cần che chuồng cho kín gió. Khi đủ nhiệt ngỗng con đi lại ăn uống bình thường. 3. Chuẩn bị quay úm , máng ăn , máng uống. – Quây Có tác dụng ngăn ngỗng không đi xa , đồng thời có tác dụng che ấm cho ngỗng con trong mùa đông. – Máng ăn Sử dụng máng có kích thước 45cm*60cm*2cm dùng cho 25 – 30 ngỗng con. – Máng uống Sử dụng máng nhựa cho ngỗng uống. Mỗi máng sử dụng cho 15 – 20 con. 4. Chất độn chuồng Dùng các loại rơm , trấu , mùn cưa để lót chuồng ngỗng. Trước khi lót phải tiến hành vệ sinh sạch sẽ , phơi khô sau đó mới đem vào sử dụng. 5. Ánh sáng Cần đảm bảo 24/24 giờ ở những ngày đầu , sau đó là 18 – 20 giờ ở các tuần tiềp theo. 6. Mật độ nuôi ngỗng Mật độ cần đảm bảo 1 – 7 ngày tuổi 10 – 15 con/m2. 8 – 28 ngày tuổi 6 – 8 con/m2. 7. Thức ăn và cách nuôi dưỡng ngỗng. Thức ăn xanh Rau, bèo , cỏ , củ , quả. Thức ăn hạt Ngô, thóc , đậu tương , lạc củ. Thức ăn bổ sung bệnh thường gặp ở ngỗng Cỏ 1. Bệnh tụ huyết trùng * Triệu chứng bệnh diễn ra theo 2 thể – Thể quá cấp ngỗng đang bình thường lăn ra chết. – Thể cấp tính ngỗng mệt mỏi ủ rũ. Lỗ mũi và mỏ có tiết rịch nhầy , thở khó , khò khè và nhanh. Lông xơ xác. Ngỗng ỉa nhiều , phân màu xám , vàng hoặc xanh , có thể có máu. Mào của ngỗng tím thẫm. * phòng bệnh – Không nên nuôi chung ngỗng với các loại gia cầm khác như ngan , vịt. Đảm bảo vệ sinh chuông trại , các dụng cụ thiết bị chăn nuôi cần được đánh rửa sạch sẽ , thường xuyên. * Trị bệnh + Dùng Streptomicin hoặc Sunfamethazin liều dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. 2. Bệnh dịch tả vịt lây sang ngỗng * Triệu chứng niêm mạc mắt đỏ ửng , mắt bị sung. * phòng bệnh Trước hết cần cách ly đàn ngỗng giống khỏi khu vực có các đàn vịt lớn hoặc đang có nguy cơ mắc bệnh. Chuồng trại cần được sát trùng và để trống chuồn trước khi nuôi ngỗng ít nhất 15 ngày. Khu vực hay xảy ra dịch tả vịt thì cần phải tiêm phòng vac xin dịch tả vịt định kỳ. * Trị bệnh Khi xảy ra bệnh thì việc điều trị là kém hiệu quả , do đó ta tiêm thẳng vac xin vào ổ dịch. Những con ngỗng mắc bệnh nặng sẽ chết 20 – 50% , số còn lại trong đàn có khả năng tạo kháng thể và tồn tại. Số lượng ngỗng chết này tuỳ thuộc và tính chất nặng hay nhẹ của ổ dịch. Khi tiêm thẳng vac xin vào ổ dịch cần ưu tiên hàng đầu việc sát trùng chuồng trại và xác ngỗng chết cần được xử lý cùng vôi bột hoặc formol. Tăng cường sức đề kháng cho con vật bằng cách bổ sung vitamin C , B vào thức ăn nước uống. 3. Bệnh phó thương hàn * Triệu chứng – Thể cấp tính ỉa chảy , có bọt khí , viêm thanh dịch , có mủ , viêm màng kết mạc làm cho đau mắt. Cánh rủ , lông xơ. Bệnh kéo dài từ 1 – 4 ngày , gây chết đến 70% đàn ngỗng. – Thể mãn tính thường thấy ở ngỗng trưởng thành ỉa chảy , đôi khi có máu , lông khô xơ. Viêm lỗ huyệt , buồng trứng. trong thể mãn tính niêm mạc manh tràng thường bị phủ bởi lớp vàng dễ bóc. Túi mật sưng , đầy mật. trong lòng ruột non chứa dịch đục , đặc , màng niêm mạc thuỷ thũng , thường sung huyết , đôi khi bị phủ lớp màng như cám xám bẩn. * Phòng và trị bệnh + Dùng Biomixin liều 5 – 10mg/lần từ 2 – 3 lần/ngày , liên tục trong 5 – 6 ngày. + Có thể dùng các loại thuốc khác Norflorxacin , theo hướng dẫn của nhà sản xuất . Không dùng trứng của các ngỗng mẹ có bệnh để ấp. 4. Bệnh cắn lông , rỉa lông * Bệnh thường xảy ra ở các đàn ngỗng đang ở lứa tuổi mọc lông cánh , ngoài ra có thể trong khẩu phần thiếu protein nghiêm trọng , hoặc trong thời gian ngắn cho ăn quá nhiều đạm động vật , sau đó lại thiếu , hoặc trong thức ăn thiếu khoáng lưu huỳnh , phốt pho , coban , mangan . Điều hết sức quan tâm đối với ngỗng con là thiếu rau xanh , chất xơ. Ngỗng con hầu cả ngày đều cần rỉa rau , nếu không có nó sẽ buồn miệng nhấm rỉa lông nhau. Rỉa đến khi chảy máu và màu đỏ của máu , lúc này lại tăng kích thích mổ cắn lông. * phòng bệnh Cần kết hợp các yếu tố tổng hợp , nhất là nuôi dưỡng và chuồng trại. Điều dễ dàng , đơn giản , đơn giản nhất là nhanh chóng tập cho ngỗng ra sân và chăn thả ngay từ ngày tuổi thứ 7 trở đi. Phát hiện sớm các ngỗng con bị rỉa để cách ly chúng ra khỏi đàn. * Trị bệnh Cho ăn Sunfat canxi thạch cao vì trong chất này chứa 23% canxi và 18% lưu huỳnh. – Cho uống nước pha 1% muối liên tục trong vài ngày có thể dập tắt được bệnh. – Cho ăn bột lông và tăng cường rau xanh. – Bổ sung dầu cá hoặc vitamin A từ 5 – 10 ngày với liều – UI và cách nhau 15 – 20 ngày lặp lại 3 NgỗngNgỗng cỏNgỗng giốngNgỗng nhàNgỗng taCơ sở cung cấp gà giống, vịt giống, ngan giống uy tín 1. CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THU HÀĐịa chỉ Thôn 5, Xã Phù Vân, TP. Phủ Lý , Hà thoại - giống Thu Hà là một trong những địa chỉ cung cấp con giống uy tín nhất Miền Bắc. Với đa dạng chủng loại và con giống bao gồm gà giống, vịt giống, ngan giống, ngỗng giống, chim trĩ, chim cút ... với nhiều chính sách và bảo hành tốt. You may also like... Các loại ngỗng bạn cần biết Trong bài viết này, hãy cùng Farmvina Nông Nghiệp khám phá các loại ngỗng được nuôi nhiều và giá bán của chúng nhé. Chi Ngỗng danh pháp khoa học là Anser bao gồm ba loại ngỗng lớn ngỗng trời, ngỗng xám và ngỗng trắng. Chi Ngỗng phân bố chủ yếu ở Bắc bán cầu. Vào mùa hè, một vài loài cư trú và sinh sản ở những môi trường ẩm ướt và thưa cây cối vùng cận Bắc cực và ôn đới lạnh, một vài loài sinh sản xa hơn về phía nam ở vùng ôn đới ấm. Vào mùa đông, chúng di trú về phía nam. Hiện nay chi Ngỗng được coi chứa 10 loài còn sinh tồn. Trong đó loài có kích thước lớn nhất là ngỗng xám cân nặng – loài nhỏ nhất là ngỗng Ross nặng – Chi Ngỗng có đặc điểm chung là chân màu hồng/da cam, mỏ màu hồng/da cam/đen. Kinh nghiệm chăm sóc ngỗng thịt Chúng có lông bụng và mặt trên lông đuôi màu trắng. Cổ, thân, cánh có màu xám/trắng. Ngỗng sống trong tự nhiên là loài ăn cỏ ở các vùng đất lầy lội, nhưng cũng có thể kiếm ăn ở các vùng đất khô. Nhờ các chân màng nên chúng bơi lội rất tốt, khi bơi chúng thường lặn cắm đầu xuống để tìm kiếm các loại cỏ mọc trong nước. Các cặp ngỗng sinh sản thường sống chung cả đời. Mỗi lần ngỗng mẹ đẻ 3 – 8 trứng và ấp trong vòng 21 – 30 ngày. Có hai loài trong chi Ngỗng có tầm quan trọng trong thương mại, do chúng đã được thuần hóa để trở thành ngỗng nhà. Đó là ngỗng nhà châu Âu được thuần hóa từ ngỗng xám, và ngỗng nhà châu Á và một vài giống ngỗng nhà châu Phi có nguồn gốc từ ngỗng thiên nga. Kinh nghiệm nuôi ngỗng hiệu quả Giá ngỗng thương phẩm và ngỗng giống các loại hiện nay Những năm gần đây, do sự phát triển của xã hội, mức sống của người dân được nâng lên, đi cùng với nó là nhu cầu được thưởng thức các món ăn ngon. Ngỗng là sản phẩm thịt bổ dưỡng, nếu được chăn thả trong tự nhiên ăn cỏ và rau xanh ngoài cánh đồng sẽ đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm, nên được nhiều người quan tâm tìm mua tiêu thụ và các hộ đầu tư chăn nuôi. Về cơ bản, trên thị trường hiện nay ngỗng giống và ngỗng thịt có các loại chính như sau Ngỗng trời Đây là loài hiếm nhất trong các loại ngỗng ở Việt Nam. Ngỗng trời do có chất lượng thịt thơm ngon và giàu dinh dưỡng nên được nhiều khách khắp các nơi ưa chuộng nhưng chúng thường chỉ xuất hiện trong các buổi tiệc quan trong hoặc được dùng làm quà biếu tặng với các gia đình khá giả. Chính vì ngỗng trời khá kén chọn đối tượng sử dụng nên cho đến nay, loài ngỗng này chưa được phát triển rộng rãi như các loại ngỗng thương phẩm khác. Ngỗng trời tự nhiên ngày càng hiếm. Bên cạnh đó chúng có đặc tính sinh sản rất ít 4 – 7 trứng/con mái/năm. Tỉ lệ ấp thành công lại không cao như các giống ngỗng khác. Và hầu hết ngỗng con không sinh đẻ cho tới khi đạt 3 – 4 năm tuổi. Những đặc tính này khiến giá cả của loại ngỗng này lại càng cao. Hiện giá ngỗng thương phẩm bán tại trang trại rơi vào khoảng hơn 1 triệu/con, trung bình mỗi con nặng 4 – 5kg, thời gian nuôi trung bình 6 – 7 tháng. Giá ngỗng trời giống khoảng 350 – 600 nghìn đồng/con. Nuôi ngỗng Kinh nghiệm nuôi trong nông hộ Ngỗng sư tử Ngỗng sư tử giống và ngỗng sư tử thịt thương phẩm hiện nay được rất nhiều người tìm mua và chăn nuôi vì chất lượng thịt và giá trị dinh dưỡng cao. Nhiều nhà hàng khách sạn lớn dùng thịt loại ngỗng này trong thực đơn chính dành cho khách nước ngoài. Giá bán ngỗng thịt sư tử hiện nay dao động trong khoảng 100 đến 150 nghìn đồng/kg. Đặc điểm bên ngoài của ngỗng sư tử như sau bộ lông màu đen, mỏ màu đen, đầu to, mắt nhỏ màu nâu xám, mào nhô trên trán màu nâu đen giống như bờm sư tử. Phần trên cổ có yếm da, thân hình dài vừa phải, ngực khá to nhưng hẹp. Con cái trưởng thành có khối lượng 5 – 6kg, con đực có khối lượng 6 – 7kg. Năng suất trứng 55 – 70 quả/con mái/năm. Thời gian nuôi – 5 tháng. Ngỗng lai Ngỗng lai là sản phẩm phổ thông của loài ngỗng, được nhiều hộ đầu tư chăn nuôi. Các nhà hàng nhỏ và vừa thường chọn nhập thịt dòng sản phẩm ngỗng lai để làm thực đơn. Sản lượng ngỗng lai thành phẩm hiện nay phần nào cung ứng được nhu cầu của người mua, song trong thực tế đây là mặt hàng vẫn còn khan hiếm, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ ngỗng hiện nay của thị trường. Ngỗng lai khi trưởng thành có trọng lượng khoảng 4 – Thời gian nuôi khoảng 4 tháng là có thể xuất chuồng. Giá bán trung bình của ngỗng lai thịt khoảng 120 – 135 nghìn đồng/kg. Ngỗng ta ngỗng cỏ Do giá trị dinh dưỡng và chất lượng thịt/trứng của loại ngỗng ta kém hơn nhiều so với ngỗng trời, ngỗng sư tử và ngỗng lai, vì vậy nhu cầu sử dụng ngỗng ta thương phẩm cũng ít hơn so với các loại ngỗng khác. Vì ngỗng ta đẻ trứng với số lượng lớn, khả năng nhân đàn rất nhanh nên số lượng đàn ngỗng ta hiện nay đã vượt qua nhu cầu sử dụng thực tế. Chất lượng thịt lại kén đối tượng khách hàng, kể cả người tiêu dùng gia đình hoặc các nhà hàng khách sạn nên mặc dù giá cả rất rẻ, khoảng 110 – 120 nghìn đồng/kg ngỗng ta rất khó bán. Ngỗng ta khi trưởng thành có trọng lượng 3 – Thời gian nuôi khoảng 3 – tháng. Bảng giá bán các loại ngỗng Dưới đây chúng tôi xin dưới thiệu phần tổng hợp bảng giá của các loại ngỗng hiện nay trên thị trường. Loại ngỗng Giá bán Ngỗng giống Ngỗng trời – đồng/con Ngỗng sư tử – đồng/con Ngỗng lai – đồng/con Ngỗng ta – đồng/con Ngỗng thịt Ngỗng trời – đồng/con Ngỗng sư tử – đồng/kg Ngỗng lai – đồng/kg Ngỗng ta – đồng/kg Câu Hỏi Thường Gặp Các giống ngỗng nuôi nhiều ở nước ta? Hiện nay chi Ngỗng được coi chứa 10 loài còn sinh tồn. Trong đó loài có kích thước lớn nhất là ngỗng xám cân nặng – loài nhỏ nhất là ngỗng Ross nặng – Chi Ngỗng có đặc điểm chung là chân màu hồng/da cam, mỏ màu hồng/da cam/đen. Ở nước ta nuôi nhiều 4 giống ngỗng sau Ngỗng trời, ngỗng sư tử, ngỗng cỏ ngỗng ta, ngỗng lai. Ngỗng giống các loại có giá bao nhiêu? 1 Ngỗng trời – đồng/con; 2 Ngỗng sư tử – đồng/con; 3 Ngỗng lai – đồng/con; 4 Ngỗng ta – đồng/con. Ngỗng thịt các loại có giá bao nhiêu? 1 Ngỗng trời – đồng/con; 2 Ngỗng sư tử – đồng/kg; 3 Ngỗng lai – đồng/kg; 4 Ngỗng ta – đồng/kg. Originally posted 2018-03-17 082827. I. Giới thiệu nuôi ngỗng một số giống 1. Nuôi ngỗng cỏ ngỗng sen Việt Nam. Nuôi ngỗng cỏ hay ngỗng sen phân bố rộng rãi khắp cả nước. Ngỗng cỏ được nuôi nhiều ở vùng đồng bằng và trung du. Ngỗng có 2 loại hình chính là loại hình lông trắng và lông xám. Ngoài ra còn có ngỗng loang xám trắng do sự pha tạp giữa 2 loại trên. Đặc điểm thân mình có cấu tạo chắc chắn, có dáng hình thoi, tiết diện thân gần như tròn. Ngỗng có đầu nhỏ, cổ dài và mảnh. Ngỗng đực có mào sừng hình tròn nằm ở gốc mỏ trên, mỏ màu vàng da cam, mắt màu xám đen, bụng thon gọn, chân cao vừa phải và chắc chắn. Khoảng 210 – 240 ngày tuổi ngỗng có thể đẻ. Ngỗng đẻ mỗi năm khoảng 26 – 35 quả. Khối lượng trứng trung bình từ 145g -175g. Ngỗng trưởng thành 2 năm tuổi trống nặng 4,0kg – 4,5kg, mái nặng 3,8kg – 4,2kg. Chia sẻ kinh nghiệm nuôi ngỗng Ngỗng cỏ chịu kham khổ tốt và có khả năng kháng bệnh cao hơn các giống ngỗng ngoại. 2. Ngỗng sư tử Bắt nguồn từ Bắc Trung Quốc và Xiberi, ngỗng có sức đề kháng và sức đẻ 50 – 70 quả/năm. Ngỗng sinh trưởng và phát triển nhanh, thích nghi tốt với điều kiện thiên nhiên của ta. Nuôi ngỗng có tầm vóc to trông dữ tợn, có lông màu xám, đầu to mỏ đen thẫm, mào màu đen. Mắt nhỏ và có màu nâu xám. Phần trên cổ có yếm da, thân mình dài vừa phải, ngực dài nhưng hẹp, xương to nhưng thịt màu hơi trắng. Có thể dùng ngỗng sư tử để lai với ngỗng cỏ để nâng cao khối lượng và tầm vóc. 3. Ngỗng Hungari cải tiến Được hình thành từ giống ngỗng địa phương với giống ngỗng sư tử Trung Quốc. Đời con cho màu lông xám và lông trắng. Tốc độ sinh trưởng và tăng trọng bình thường 10 tuần tuổi đạt 3,4 – 3,6kg. Bình quân đẻ 30 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 150 – 180g/quả. Ngỗng Hungari có khẳ năng thích nghi tốt với hoàn cảnh sống tự nhiên và tận dụng thức ăn tự nhiên tốt. Người ta còn dùng giống ngỗng này để sản xuất gan. II. Thức ăn trong chăn nuôi ngỗng Các loại thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi ngỗng gồm 1. Thức ăn xanh Rau, bèo, cỏ, củ, quả. 2. Thắc ăn hạt Ngô, thóc, đậu tương, lạc củ. 3. Thức ăn bổ sung khoáng. 1. Thức ăn xanh và củ, quả Ngỗng sử dụng tốt và rất hiệu quả thức ăn xanh lá rau, các loại bèo, các loại nuôI ngỗng thức ăn xanh chiếm 30 – 40% lượng thức ăn cung cấp hằng ngày. Ngoài ra trong thức ăn xanh còn có một số loại củ như khoai lang, sắn củ bỏ vỏ và bí đỏ. 2. Thức ăn hạt * Ngô Được sử dụng nhiều trong giai đoạn vỗ béo. Ngô có hàm lượng caroten và tinh bột cao. Tuy vậy cần chú ý trong khâu bảo quản vì ngô dễ bị nấm mốc. * Thóc Thóc là một phần lương thực được sử dụng trong chăn nuôi ngỗng. Trong hạt thóc tỷ lệ xơ cao, protein, chất béo và giá trị năng lượng trao đổi thấp hơn ngô. Trong chăn nuôi nông hộ thóc được sử dụng nhiều dể chăn nuôi vịt, ngan và ngỗng. * Hạt đậu tương Đậu tương là nguồn thức ăn thực vật Năng lượng trao đổi cao, giàu protein. Cần chú ý rang hoặc luộc chín hạt đậu để làm mất hiệu lực của các độc tố của hạt. * Lạc Lạc có hàm lượng chất béo cao. Ngỗng sử dụng tốt các củ lạc cả vỏ sót và rơi vãi trên ruộng sau thu hoạch. * Cám gạo Là sản phẩm sau xay xát có giá trị dinh dưỡng cao. Cám gạo tốt, ít chất xơ, nhiều Vitamin B1. Khi sử dụng nên phối hợp với các thức ăn tinh khác. Đối với ngỗng, vịt có thể nấu chín hoặc trộn lẫn với rau xanh. 3. Thức ăn bổ sung Trong thực tế chăn nuôi ngỗng ít bị thiếu khoáng và Vitamin nếu ngỗng được nuôi với đủ rau cỏ xanh và được chăn thả cỏ. Sự thiếu hụt khoáng và vitamin chỉ xảy ra với ngỗng nuôi nhốt. Cần bổ sung thêm Bột vỏ sò, vỏ trứng là nguồn thức ăn chứa 33%caxi và khoảng 6% photpho, sử dụng bổ sung để nuôi ngỗng. => Xem thêm Thức ăn cho ngỗng như thế nào? III. Kỹ thuật nuôi ngỗng a- Kỹ thuật nuôi ngỗng con, ngỗng choai 1. Chọn ngỗng con Ngỗng phải nở đúng ngày, khối lượng từ 85 – 100g/ nhẹn, lông bông, mắt sáng không hở rốn, dáng đi vững vàng. Nừu là ngỗng cỏ có lông màu vàng chanh 2. Nhiệt độ Tuần 1 32 – 35 C Tuần 2 27 – 29 C Tuần 3 25 – 27 C Tuần 4 23 – 25 C Đảm bảo nhiệt độ gột ngỗng trong những ngày mới nở và trong mùa gột ngỗng là yếu tố quan trọng đầu tiên giúp ngỗng con có sức đề kháng tốt. – Biện pháp sưởi ấm Có thể dùng lò sưởi bằng bóng điện 100w. Nếu sử dụng trấu hoặc than cần phải chú ý để khói thoát ra ngoài tránh ngỗng con bị ngạt bởi thiếu Oxi và ngộ độc khí cacbonic. Cách tốt nhất nhận biết ngỗng có đủ ấm hay không là quan sát đàn ngỗng. + Nếu thiếu nhiệt Ngỗng bị lạnh sẽ nằm đè lên nhau, cum thành từng đống. Cần tăng cường nguồn nhiệt và che chắn chuồng nuôi để giữ nhiệt, đồng thời tách những ngỗng yếu để chăm sóc riêng. + Nếu quá nóng Ngỗng tránh xa nguồn nhiệt + Nếu bị lạnh Ngỗng con dạt về một phía, nằm cụm thành từng nhóm. Cần che chuồng cho kín gió. + Nếu đủ nhiệt Ngỗng con đi lại ăn uống bình thường 3. Quây và máng ăn, máng uống – Quây Có tác dụng ngăn ngỗng không đi xa, đồng thời có tác dụng che ấm cho ngỗng con trong mùa đông. – Máng ăn Sử dụng máng có kích thước 45cm*60cm*2cm dùng cho 25 – 30 ngỗng con. – Máng uống Sử dụng máng nhựa cho ngỗng uống. Mỗi máng sử dụng cho 15 – 20 con. 4. Chất độ chuồng Dùng các loại rơm, trấu, mùn cưa để lót chuồng ngỗng. Trước khi lót phải tiến hành vệ sinh sạch sẽ, phơi khô sau đó mới đem vào sử dụng. 5. Ánh sáng Cần đảm bảo 24/24 giờ ở những ngày đầu, sau đó là 18 – 20 giờ ở các tuần tiềp theo. 6. Mật độ Mật độ cần đảm bảo 1 – 7 ngày tuổi 10 – 15 con/m2 8 – 28 ngày tuổi 6 – 8 con/m2 7. Thức ăn và cách nuôi dưỡng ngỗng b- Kỹ thuật chăn nuôi ngỗng hậu bị, sinh sản 1. Chuẩn bị cơ sở vật chất – Cần chuẩn bị con giống, chuồng trại và thức ăn+ Giống ngỗng Cần có kế hoặch về quy mô đàn và thời gian nuôi để có kế hoạch mua con giống cho chủ động và mua được giống tốt + Chuồng trại Ngỗng hậi bị và sinh sản không cần chuồng nuuôi cầu kỳ. Chuồng nuôi chỉ làm bằng những nguyên liệu dễ kiếm như tre, lứa. Tường bao không cần qua kín để tiện lợi việc đi lại của ngỗng, dễ dàng vệ sinh và đảm bảo sự thông thoáng. Nề chhuồng làm bằng gạch hoặc láng xi măng để dễ quét dọn, nền phải có độ dốc về sau. Nên có diện tích mặt nước trứơc chuồng để cho ngỗng tắm và bơi lội. + Thức ăn Cần dự trữ ngô, thóc từ đầu vụ cho đàn ngỗng hậu bị và sinh sản. Cần 45 – 50kg thóc hoặc ngô/ngỗng. – Gây giống ngỗng hậu bị Ngỗng có thể đẻ trứng từ 3 – 4 năm. Nếu điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì ở các năm tiếp theo ngỗng mái không giảm sút nhiều sức đẻ ở các năm tiếp theo. Chọn được ngỗng hậu bị tốt sẽ quyết định đến sự thành bại của đàn ngỗng sinh sản. Có 2 cách để gây giống hậu bị. + Cách thứ nhất Tự gột ngỗng từ 1 ngày tuổi và chọn giữ lại ngỗng mái. , phao câu to. . Đối vỡi ngỗng đực chọn những con có lý lịch rõ ràng có các chỉ tiêu giống của ngỗng bố về tốc độ sinh trưởng, màu lông phải đặc trưng cho giống, đầu to mắt sáng, dáng hùng dũng. + Cách thứ hai Mua ngỗng dò lúc 77 ngày tuổi hoặc ngỗng hậu bị lúc 180 ngày tuổi. Cách này áp dụng cho những người chưa có kinh nghiệm gột ngỗng 1 ngày tuổi, nếu tiến hành theo cách này thì cần có kế hoạch dự trù số lượng ngỗng giống cần mua từ các cơ sở giống. 2. Gây ngỗng để sinh sản Về cơ bản giỗng ngỗng đã được chọnn ở giai đoạn hậu bị, cầ tiến hành chọn lọc lần cuối trước khi vào đẻ. Giữ lại những con giống đạt yêu cấu sau- Con mái Khoẻ mạnh, dáng thanh, đạt khối lượng 3,6 – 3,8kg, lỗ huyệt ướt, xương chậu nở, có biểu hiện thích đi cùng ngỗng Con trống Khoẻ mạnh, dáng hùng dũng, đạt khối lượng 4 – 4,5kg, gai giao cấu phát triển rõ ràng. 3. Kỹ thuật nuôi dưỡng ngỗng sinh sản trong chăn thả. – Tỷ lệ trống mái cần thiết là 14 hoặc 15. – Chuẩn bị ổ đẻ Làm vách ngăn cao hơn nền chuồng khoảng 20cm để ngỗng đỡ làm bẩn trứng, dưới có rơm rạ sạch để lót ổ. Cứ 2 – 3 ngỗng cần 1 ổ đẻ. – Chăn thả ngỗng đẻ Thời gian Sáng từ 8 – 11giờ Chiều từ 2 – 5 giờ Buổi trưa Cho ngỗng về nhà hoặc tránh nắng đưới các gốc cây, bổ sung 50g thóc hoặc ngô/con/ngày. Buổi tối Khi ngỗng về nhà cho ăn nốt số thức ăn còn lại, từ 100 – 150g/con/ngày. => Kỹ thuật nuôi ngỗng Tóm tắt từ A đến Z IV. Một số bệnh ngỗng thường mắc và cách phòng trị 1. Bệnh tụ huyết trùng – Nguyên nhân Bệnh tụ huyết trùng hay còn gọi là hoại hụyết ngỗng, do vi khuẩn Pasteurellosis gây ra. Ngỗng rất mẫn cảm với bệnh này. ở những ngỗng khoẻ mạnh vẫn có mầm bệnh. – Triệu chứng Thể quá cấp, ngỗng đang khoẻ mạnh, lăn ra chết. Thể cấp tính ngỗng uể oải, ủ rũ. Từ mỏ và lỗ mũi có tiết chất nhờn có bọt, có thể có tiếng khò khè. Lông xù, mất óng ánh. Phân màu xám, vàng hoặc xanh, đôi khi có máu, ỉa nhiều. Mào bị tím xanh. Thở nhanh và khó – Bệnh tích ở thể quá cấp có thanh dịch trong bao tim. trong trường hợp cấp tính tụ máu trong các lớp da bên trong và dưới da; xuất huyết ở nội tâm mạc; bao tim ứ đầy nước; viêm tá tràng; trong xoang bụng có thanh dịch; gan xưng, có nhiều điểm hoại tử, lá lách sưng; phổi viêm và có nốt sần. – Phòng bệnh Không nên nuôi lẫn lộn giữa vịt, ngan và ngỗng. Chuồng trại cần làm vệ sinh thật chu đáo, kể cả các dụng cụ ăn uống cần được tẩy uế sát trùng theo định kỳ thời gian, nhất là khi có dịch bệnh xảy ra. – Trị bệnh + Dùng Streptomicin 100 – 150mg/1kg thể trọng liên tục trong 3 – 5 ngày. + Sunfamethazin trộng với thức ăn 0,5% hoặc hoà với nước uống 1%. 2. Bệnh dịch tả vịt lây sang ngỗng – Triệu chứng Điển hình là đau mắt đỏ và sưng – Phòng bệnh Trước hết cần cách ly đàn giống khỏi khu vực có các đàn vịt lớn hoặc đang mắc bệnh, chuồng trại cần được tiêu độc cẩn thận trước lúc nuôi đàn giống. Những nơi có ổ dịch tả vịt thường xuyên xảy ra càn tiêm vacxin dịch tả để phòng. – Trị bệnh Khi xảy ra bệnh thì việc điều trị là kém hiệu quả, cần tiêm ngay vacxin vào thẳng ổ dịch. Những ngỗng mắc bệnh nặng sẽ chết 20 – 50%, số còn lại trong đàn có khả năng tạo kháng thể và tồn tại, tỷ lệ chết này tuỳ thuộc và tính chất nặng nhẹ của ổ dịch. Cần lưu ý cùng với việc tiêm thẳng vacxin thì công tác tẩy uế chuồng trại cần được thực hiện nghiêm túc, xác ngỗng chết phải được chôn cùng chất sát trùng như vôi bột hoặc foocmol. Bổ sung vitmin C và vitamin B vào nước uống liều 2g/1lít nước. 3. Bệnh phó thương hàn – Nguyên nhân Đặc trưng là ỉa chảy, viêm kết mạc và gầy sút. Bệnh có ở tất cả các nơi, gây chết 70 – 80% đàn gia cầm non, gia cầm lớn mắc bệnh ở thể mãn tính, làm sức đẻ trứng bị giảm sút. Gia cầm bệnh và khỏi bệnh là nguồn lây bệnh chủ yếu. Chúng có thể đẻ trứng đã bị nhiễm bệnh, nếu nhiễm nặng khi ấp phôi thai có thể chết, nếu nở được thì con cũng mắc bệnh. khi ngỗng bị quá mết do vận chuyển, chuồng trại chật trội, độ ẩm cao, bẩn, thiếu nước uống, sự biến đổi nhệt lớn sẽ phát bệnh. Sự nhiễm bệnh chủ yếu qua đường tiêu hoá, có khi qua hô hấp, qua phối giống. – Triệu chứng và bệnh tích Thể cấp tính ỉa chảy, có bọt khí, viêm thanh dịch, có mủ, viêm màng kết mạc làm cho đau mắt. Cánh rủ, lông xơ, cánh khô mất lánh. Bệnh kéo dài từ 1 – 4 ngày, gây chết đến 70%. Thể mãn tính thường thấy ở gia cầm lớn ỉa chảy, đôi khi có máu, lông khô mất ánh. Viêm lỗ huyệt, buồng trứng. trong thể mãn tính niêm mạc manh tràng thương bị phủ bởi lớp vàng dễ bóc. Túi mật sưng, đầy mật. trong lòng ruột non chứa dịch đục, đặc, màng niêm mạc thuỷ thũng, thường sung huyết, đôi khi bị phủ lớp màng như cám xám bẩn. – Phòng và trị bệnh + Dùng Biomixin liều 5 – 10mg/lần từ 2 – 3 lần/ngày, liên tục trong 5 – 6 ngày. + Có thể dùng các loại thuốc khác Norflorxacin, hướng dẫn của nhà sản xuất. Không dùng trứng của các ngỗng mẹ có bệnh để ấp. 4. Bệnh cắn lông, rỉa lông – Nguyên nhân Bệnh thường xảy ra ở các đàn ngỗng nuôi nhốt chật trội, khônh có sân vận động. chuồng trại ẩm ướt, thiếu ánh sáng. Nhiệt độ môi trường tăng cao đột ngột, khônh khí khô, ánh nắng chói chang, hoặc do nhốt chung con lớn bé, hoặc do đưa các con mới về chuồng. Bệnh thường xảy ra ở các đàn ngỗng đang ở lứa tuổi mọc lông vài và lông cánh. ngoài ra có thể trong khẩu phần thiếu protein nghiêm trọng, hoặc trong thời gian ngắn cho ăn quá nhiều đạm động vật, sau đó lại thiếu, hoặc trong thức ăn thiếu khoáng lưu huỳnh, phốt pho, coban, mangan. Có thể do các yếu tố sinh lý như sự ồn ào. Điều hết sức quan tâm đối với ngỗng con là thiếu rau cỏ. Ngỗng con hầu như suốt ngày rất cần rỉa rau, nếu không có, buồn miệng hay nhấm rỉa lông nhau. Rỉa đến khi chảy máu và màu đỏ của máu lại tăng kích thích mổ cắn lông. – Phòng bệnh Cần kết hợp các yếu tố tổng hợp, nhất là nuôi dưỡng và chuồng trại. Điều dễ dàng, đơn giản, đơn giản nhất là nhanh chóng tậpncho ngỗng ra sân và chăn thả ngay từ ngày tuổi thứ 7 trở đi. Phát hiện sớm các ngỗng con bị rỉa để cách ly chúng ra khỏi đàn. – Trị bệnh Cho ăn sunfat canxi thạch cao vì trong chất này chứa 23% canxi và 18% lưu huỳnh. Cho uống nước pha 1% muối liên tục trong vài ngày có thể dập tắt được bệnh. Cho ăn bột lông và tăng cường rau xanh. Bổ sung dầu cá hoặc vitamin A từ 5 – 10 ngày với liều – UI và cách nhau 15 – 20 ngày lặp lại 3 lần. Câu Hỏi Thường Gặp Thức ăn của ngỗng trong chăn nuôi là gì? Các loại thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi ngỗng gồm 1 Thức ăn xanh Rau, bèo, cỏ, củ, quả. 2 Thắc ăn hạt Ngô, thóc, đậu tương, lạc củ; 3 Thức ăn bổ sung khoáng. Kỹ thuật nuôi ngỗng con, ngỗng choai như thế nào? 1 Chọn ngỗng con khối lượng từ 85 - 100g/ nhẹn, lông bông, mắt sáng không hở rốn, dáng đi vững vàng; 2 Nhiệt độ; 3 Quây và máng ăn, máng uống; 4 Chất độ chuồng Dùng các loại rơm, trấu, mùn cưa để lót chuồng ngỗng; 5 Ánh sáng Cần đảm bảo 24/24 giờ ở những ngày đầu, sau đó là 18 - 20 giờ ở các tuần tiềp theo; 6 Mật độ 1 - 7 ngày tuổi 10 - 15 con/m2, 8 - 28 ngày tuổi 6 - 8 con/m2; 7 Thức ăn và cách nuôi dưỡng ngỗng. Originally posted 2014-04-17 024337. – Ngỗng Cỏ phân bố rộng rãi khắp cả nước, đựơc nuôi nhiều ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. – Ngỗng Cỏ thân hình có cấu tạo vững chắc chắn, có dáng hình thoi phù hợp với việc đi nhanh và xa, tiết diện thân gần như tròn. – Ngỗng Cỏ có đầu nhỏ, cổ dài và mảnh. – Ở ngỗng đực có mào sừng hình tròn nằm ở gốc mỏ trên, mỏ có màu da cam, mắt màu xanh xám đen, bụng thu gọn, chân cao vừa phải chắc chắn. – Giống ngỗng Cỏ này có màu trắng rất hiếm, màu xám, màu xám đen. – Khi trưởng thành ngỗng đực nặng ngỗng cái nặng Hướng dẫn nuôi ngỗng Cỏ 1. Chọn ngỗng con 1 ngày tuổi Ngỗng phải nở đúng ngày, khối lượng từ 85 – 100g/ lông phải bông, màu vàng chanh, mắt sáng không hở rốn, dáng đi nhanh nhẹn vững vàng. 2. Nhiệt độ nuôi ngỗng Cỏ Tuần 1 32 – 35 o C. Tuần 2 27 – 29 o C. Tuần 3 25 – 27 o C. Tuần 4 23 – 25 o C. – Đảm bảo nhiệt độ gột ngỗng trong những ngày mới nở và trong giai đợn gột ngỗng là yếu tố quan trọng đầu tiên giúp ngỗng con có sức đề kháng tốt. – Biện pháp sưởi ấm Có thể dùng lò sưởi bằng bóng điện 100W. – Nếu sử dụng trấu hoặc than cần phải chú ý để khói thoát ra ngoài tránh ngỗng con bị ngạt bởi thiếu O 2 và ngộ độc khí CO 2. Cách tốt nhất nhận biết ngỗng có đủ ấm hay không là quan sát đàn ngỗng, khi thiếu nhiệt ngỗng bị lạnh sẽ nằm đè lên nhau, tụm lại thành từng đống, cần tăng cường nguồn nhiệt và che chắn chuồng nuôi để giữ nhiệt, đồng thời tách những ngỗng yếu để chăm sóc riêng. Khi quá nóng ngỗng sẽ tránh xa nguồn nhiệt. Khi bị lạnh ngỗng con dạt về một phía, nằm cụm thành từng nhóm, cần che chuồng cho kín gió. Khi đủ nhiệt ngỗng con đi lại ăn uống bình thường. 3. Chuẩn bị quay úm, máng ăn, máng uống. – Quây Có tác dụng ngăn ngỗng không đi xa, đồng thời có tác dụng che ấm cho ngỗng con trong mùa đông. – Máng ăn Sử dụng máng có kích thước 45cm*60cm*2cm dùng cho 25 – 30 ngỗng con. – Máng uống Sử dụng máng nhựa cho ngỗng uống. Mỗi máng sử dụng cho 15 – 20 con. 4. Chất độn chuồng Dùng các loại rơm, trấu, mùn cưa để lót chuồng ngỗng. Trước khi lót phải tiến hành vệ sinh sạch sẽ, phơi khô sau đó mới đem vào sử dụng. 5. Ánh sáng Cần đảm bảo 24/24 giờ ở những ngày đầu, sau đó là 18 – 20 giờ ở các tuần tiềp theo. 6. Mật độ nuôi ngỗng Mật độ cần đảm bảo 1 – 7 ngày tuổi 10 – 15 con/m2. 8 – 28 ngày tuổi 6 – 8 con/m2. 7. Thức ăn và cách nuôi dưỡng ngỗng. Thức ăn xanh Rau, bèo, cỏ, củ, quả. Thức ăn hạt Ngô, thóc, đậu tương, lạc củ. Thức ăn bổ sung khoáng. Các bệnh thường gặp ở ngỗng Cỏ 1. Bệnh tụ huyết trùng * Triệu chứng bệnh diễn ra theo 2 thể – Thể quá cấp ngỗng đang bình thường lăn ra chết. – Thể cấp tính ngỗng mệt mỏi ủ rũ. Lỗ mũi và mỏ có tiết rịch nhầy, thở khó, khò khè và nhanh. Lông xơ xác. Ngỗng ỉa nhiều, phân màu xám, vàng hoặc xanh, có thể có máu. Mào của ngỗng tím thẫm. * phòng bệnh – Không nên nuôi chung ngỗng với các loại gia cầm khác như ngan, vịt. Đảm bảo vệ sinh chuông trại, các dụng cụ thiết bị chăn nuôi cần được đánh rửa sạch sẽ, thường xuyên. * Trị bệnh + Dùng Streptomicin hoặc Sunfamethazin liều dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. 2. Bệnh dịch tả vịt lây sang ngỗng * Triệu chứng niêm mạc mắt đỏ ửng, mắt bị sung. * phòng bệnh Trước hết cần cách ly đàn ngỗng giống khỏi khu vực có các đàn vịt lớn hoặc đang có nguy cơ mắc bệnh. Chuồng trại cần được sát trùng và để trống chuồn trước khi nuôi ngỗng ít nhất 15 ngày. Khu vực hay xảy ra dịch tả vịt thì cần phải tiêm phòng vac xin dịch tả vịt định kỳ. * Trị bệnh Khi xảy ra bệnh thì việc điều trị là kém hiệu quả, do đó ta tiêm thẳng vac xin vào ổ dịch. Những con ngỗng mắc bệnh nặng sẽ chết 20 – 50%, số còn lại trong đàn có khả năng tạo kháng thể và tồn tại. Số lượng ngỗng chết này tuỳ thuộc và tính chất nặng hay nhẹ của ổ dịch. Khi tiêm thẳng vac xin vào ổ dịch cần ưu tiên hàng đầu việc sát trùng chuồng trại và xác ngỗng chết cần được xử lý cùng vôi bột hoặc formol. Tăng cường sức đề kháng cho con vật bằng cách bổ sung vitamin C, B vào thức ăn nước uống. 3. Bệnh phó thương hàn * Triệu chứng – Thể cấp tính ỉa chảy, có bọt khí, viêm thanh dịch, có mủ, viêm màng kết mạc làm cho đau mắt. Cánh rủ, lông xơ. Bệnh kéo dài từ 1 – 4 ngày, gây chết đến 70% đàn ngỗng. – Thể mãn tính thường thấy ở ngỗng trưởng thành ỉa chảy, đôi khi có máu, lông khô xơ. Viêm lỗ huyệt, buồng trứng. trong thể mãn tính niêm mạc manh tràng thường bị phủ bởi lớp vàng dễ bóc. Túi mật sưng, đầy mật. trong lòng ruột non chứa dịch đục, đặc, màng niêm mạc thuỷ thũng, thường sung huyết, đôi khi bị phủ lớp màng như cám xám bẩn. * Phòng và trị bệnh + Dùng Biomixin liều 5 – 10mg/lần từ 2 – 3 lần/ngày, liên tục trong 5 – 6 ngày. + Có thể dùng các loại thuốc khác Norflorxacin, theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Không dùng trứng của các ngỗng mẹ có bệnh để ấp. 4. Bệnh cắn lông, rỉa lông * Bệnh thường xảy ra ở các đàn ngỗng đang ở lứa tuổi mọc lông cánh, ngoài ra có thể trong khẩu phần thiếu protein nghiêm trọng, hoặc trong thời gian ngắn cho ăn quá nhiều đạm động vật, sau đó lại thiếu, hoặc trong thức ăn thiếu khoáng lưu huỳnh, phốt pho, coban, mangan. Điều hết sức quan tâm đối với ngỗng con là thiếu rau xanh, chất xơ. Ngỗng con hầu cả ngày đều cần rỉa rau, nếu không có nó sẽ buồn miệng nhấm rỉa lông nhau. Rỉa đến khi chảy máu và màu đỏ của máu, lúc này lại tăng kích thích mổ cắn lông. * phòng bệnh Cần kết hợp các yếu tố tổng hợp, nhất là nuôi dưỡng và chuồng trại. Điều dễ dàng, đơn giản, đơn giản nhất là nhanh chóng tập cho ngỗng ra sân và chăn thả ngay từ ngày tuổi thứ 7 trở đi. Phát hiện sớm các ngỗng con bị rỉa để cách ly chúng ra khỏi đàn. * Trị bệnh Cho ăn Sunfat canxi thạch cao vì trong chất này chứa 23% canxi và 18% lưu huỳnh. – Cho uống nước pha 1% muối liên tục trong vài ngày có thể dập tắt được bệnh. – Cho ăn bột lông và tăng cường rau xanh. – Bổ sung dầu cá hoặc vitamin A từ 5 – 10 ngày với liều – UI và cách nhau 15 – 20 ngày lặp lại 3 lần. Ngỗng cỏ hay còn gọi là ngỗng Sen là một giống ngỗng nhà nội địa có nguồn gốc ở Việt Nam, chúng được nuôi phổ biến ở Bắc Bộ, sau đó phân bố rộng rãi khắp cả nước. Ngỗng cỏ được nuôi nhiều ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ[1][2]. Ngỗng cỏ chịu kham khổ tốt và có khả năng kháng bệnh cao hơn các giống ngỗng ngoại. Về phân loại, ngỗng Cỏ thuộc loài ngỗng Cynopsis sinensis, tổ tiên của chúng là giống ngỗng trời, cư trú ở vùng Siberia và miền bắc Trung Quốc. Chúng được Nhà nước Việt Nam công nhận là một giống vật nuôi được phép lưu thông[3] và cũng là giống vật nuôi quý cần bảo tồn nguồn gen[4]. Một đàn ngỗng cỏ đang được nuôi ở miền nam Việt Nam Một cặp ngỗng cỏ ở An Giang, Việt Nam

cây cỏ lông ngỗng