Bài làm văn - Kể chuyện nhập vai. Trường: THPT Thăng Long. Lớp: 10D4. Học sinh: Nguyễn Thu Hà. ĐỀ: VÀO VAI NHÂN VẬT TRỌNG THUỶ HOẶC MỊ CHÂU KỂ LẠI TRUYỆN "AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU, TRỌNG THUỶ". BÀI LÀM: Trong lòng ta thật sự đang rất rối loạn. Từng tiếng vó ngựa
Bài 1: Truyện an dương vương và trọng thủy- Mị châu. a, anh 'chị' chứng kiến sự ngây thơ, nhẹ dạ,cả tin của mị châu và kết cục mị châu bị chính cha mình chém chết và hóa thành ngọc sống dưới thủy cung.nàng đã trải lòng vs long vương về câu chuyện của đời mình
Kể lại truyện "An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thuỷ" theo lời kể của nhân vật Trọng Thuỷ là tài liệu văn mẫu lớp 10 hay, giúp các em học sinh biết cách kể sáng tạo truyện Mị Châu - Trọng Thủy bằng lời tự thuật của An Dương Vương. Mời các em cùng tham khảo các bài văn mẫu nhập vai An Dương Vương
Đóng vai nhân vật Mỵ Châu hãy kể lại Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu, Trọng ThuỷTôi là con gái yêu quý của vua hùng An Dương Vương, Vì ngây thơ trong sáng không biết được âm mưu thâm độc của kẻ thù nên tôi đã bị người lừa dối, phạm vào tội hại cha bán nước
Giả sử lúc hai cha con An Dương Vương lên ngựa chạy trốn, Mị Châu không rắc lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy, hãy tưởng tượng và kể lại đoạn kết câu chuyện theo lời Mị Châu.
Hãy Đóng Vai Mị Châu Kể Lại Truyện An Dương Vương Và Mị Châu, Trọng Thủy. là con của Long Vương. Sau vài lần nói chuyện, xem chừng Related Posts. Soạn tổng kết phần văn bản nhật dụng lớp 9. 08:39, 01/10/2021. Điểm chuẩn học viện công nghệ bưu chính viễn thông 2016.
Kuckvql. Vua An Dương Vương, họ Thục tên Phán, là vị vua lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam. Sau chiến thắng vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân nhà Tần, Thục Vương quyết định xây thành Cổ Loa, chọn một quả đồi đất rắn như đá để đắp thành. Thế nhưng, thành hễ đắp đến đâu lại lở đến đấy, sau mấy lần, An Dương Vương quyết định xem chỗ địa thành để lập đàn trai giới, cầu trời phù hộ đắp xong tòa thành. AN Dương Vương "Nước Việt ta không dễ gì mới đánh thắng được bọn giặc Tần hung hãn, nay muốn xây dựng nên một bức tường thành cao ráo, kiên cố, để cho con dân trăm họ được yên ổn an sinh, nhà nhà no ấm, nước nhà hưng thịnh. Mong cho bách thần thành toàn ước nguyện." Nói rồi An Dương Vương khấu đầu ba cái, tất cả quần thần, dân chúng cũng làm theo. Không lâu sau đó, vào ngày mồng bảy tháng ba, An Dương Vương cùng các quân thần vẫn đi xem thành như thường lệ, nhìn đám người đang hì hục khuân vác, nhà vua không khỏi than thở - Không biết trời có giúp ta? Cụ già "Xây dựng thành như thế này, biết bao giờ cho xong được." Chợt, từ phía sau vang lên một giọng nói, nhà vua ngạc nhiên quay đầu lại, thấy một cụ già từ xa đi tới, đến trước mặt vua hành lễ. Vua nghe cụ nói như vậy, liền biết đây là người có thể giúp mình, mừng rỡ đón vào điện, thi lễ, hỏi - Ta đắp thành này đã nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức nhưng không thành, thế là cớ làm sao? Cụ già đáp - Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công. An Dương Vương "Sứ Thanh Giang?" Cụ già gật đầu "Lão chỉ phụ trách báo tin, nay đã xong việc, xin được cáo lui." Cụ già nói rồi ra về. Hôm sau, từ lúc sáng tờ mờ, nhà vua đã ra cửa Đông chờ đợi, lúc sương vừa tan, bỗng thấy xuất hiện một con rùa vàng từ xa tiến lại, nổi trên mặt nước. Rùa Vàng "Thục vương là đang đợi ta sao?" Nghe thấy rùa vàng nói sõi tiếng người, cả nhà vua và quần thần đều hết sức kinh ngạc, cũng rất tôn kính. Rùa vàng chỉ trong một khắc, biến hóa thành người, đứng trên bờ. An Dương Vương "Ngài chính là?" Rùa Vàng "Đúng thế, ta chính là thần Kim Quy, sứ giả của vua Thủy Tề, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Nay biết được Thục vương gặp khó khăn trong việc xây thành, vua Thủy Tề lệnh cho ta đến đây giúp đỡ." Nhà vua mừng rỡ nói "Điều này cụ già đã báo cho ta biết trước. Không nên chậm trễ, người đâu, mau đưa xe rước sứ Thanh Giang vào thành tiếp đón cẩn thận." Đoàn xe đi vào trong thành, thần Kim Quy bèn nói với nhà vua "Thục vương, trước khoan hãy vào điện, ta muốn đến xem nơi thành lũy đang xây dựng." An Dương Vương làm theo lời của Thần Kim Quy. Đến nơi, thần Kim Quy đứng xem xét, đã biết được nguyên nhân vì sao thành lở. Rùa Vàng "Ở núi Thất Diệu có một con gà trắng sống lâu năm thành tinh có phép biến hóa khôn lường, nó cùng với những yêu ma quỷ quái nơi đây thường phá phách dân làng, cũng chính nó đã làm cho thành lở, mãi không được xây xong." Thần Kim Quy nói xong nguyên do, bèn cùng với nhà vua bàn cách tiêu diệt, chỉ trong vòng ba ngày, đám yêu ma quỷ quái đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Có Rùa Vàng trấn giữ, mọi việc đã yên tâm, nhà vua nói với Cao Lỗ "Mau đốc thúc việc xây thành, để chuẩn bị trước khi Triệu Đà lại cho quân sang chiếm Âu Lạc ta." Cao Lỗ "Thần tuân lệnh." Thành xây nửa tháng thì xong, thành rộng hơn ngàn trượng, vừa cao vừa dày, xoắn như hình trôn ốc, nên lấy tên là Loa Thành, hay còn gọi là Quỷ Long Thành, người thời Đường gọi nó là Côn Lôn Thành, lấy lẽ rằng nó cao lắm. Rùa vàng ở lại ba năm rồi từ biệt ra về. Ngày tiễn thần đi, nhà vua cảm tạ nói "Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?" Thần Kim Quy biến trở lại thành một con rùa vàng rất lớn, nổi trên mặt nước, đáp rằng "Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, con người có thể tu đức mà kéo dài thời vận. Nhà vua ước muốn ta có tiếc chi." Nói rồi bèn tháo một cái móng của mình, trao cho nhà vua "Đem vật này làm lẫy nỏ, khi có giặc đem ra bắn, có thể giết được hàng nghìn quân địch." Nói rồi Rùa Vàng lặn xuống biển sâu. Lúc vào thành, An Dương Vương tức tốc giao việc cho Cao Lỗ "Hãy lập tức cho người làm một cái nỏ lớn, dùng cái này làm lẫy nỏ, nhờ thánh thần giúp ta, lần này Âu Lạc nhất định sẽ lại giành được thắng lợi." Cao Lỗ cũng vui mừng "Vâng, thần tuân chỉ. Nhờ phúc của bệ hạ, lần này nhất định chúng ta sẽ lại chiến thắng." Nỏ thần làm xong, Nhà vua đặt tên cho nó là "Linh quang Kim Quy thần cơ". Dù đã có nỏ thần trong tay, An Dương Vương vẫn ngày đêm miệt mài luyện binh rèn tướng, không hề ngừng nghỉ, bởi lẽ "Dù chúng ta đã có nỏ thần, vẫn luôn phải đề cao cảnh giác, tuyệt không lơ là, giặc ngoại sức cường thế mạnh, chúng ta chỉ là một nước nhỏ, nhất định phải ngày đêm dốc sức rèn luyện." Binh lính "Rõ" Không lâu sau Triệu vương là Đà đem quân sang xâm lược phương Nam nước Âu Lạc, Thục Phán An Dương Vương đã xây xong thành Cổ Loa, lại có nỏ thần trong tay, Âu Lạc đánh bại sự xâm lăng của Triệu Đà, quân Đà thua lớn chạy về Trâu Sơn, đắp lũy không dám đối chiến. Thế nhưng, không từ bỏ dã tâm, Triệu Đà lại dùng gian kế "cầu hòa", hắn sai người viết một lá thư, trong thư viết "Thục vương nước Âu Lạc là người tài trí đa mưu, lại được thần linh giúp đỡ, bản vương đúng là có mắt không thấy thái sơn, đem quân sang đánh Âu Lạc, đúng là việc lỗ mãng ngu dốt. Nay ta muốn được cầu hòa, muốn Thục Vương gả con gái Mị Châu cho con trai ta là Trọng Thủy, mong hai nước từ nay được yên ổn an sinh, không còn chiến tranh đau thương, loạn lạc." Cùng theo đó là rất nhiều trang sức lễ vật. Lúc nhìn thấy lễ vật cùng với thư cầu hôn, An Dương Vương nói với con gái Mị Châu "Nước Triệu đã thua dưới tay ta, nay Triệu Vương muốn cầu hòa, ý muốn hai nước được hòa bình không còn chiến tranh, ta thấy đây là việc tốt, con gái, con là công chúa Âu Lạc, nay đã đến lúc con báo đáp cho đất nước." Mị Châu lệnh vua cha khó trái, bèn đồng ý lấy Trọng Thủy. Cao Lỗ đứng bên nghe thấy vậy, vội nhắc nhở An Dương Vương "Bệ Hạ, Triệu Vương có ý nhòm ngó nước ta đã lâu, nay đột ngột xin hòa, chỉ sợ lại có tâm tư gì khác, mong bệ hạ hãy cân nhắc kĩ lưỡng." An Dương Vương nghe hạ thần nói vậy, liền cười "Ta biết ngươi lo lắng cho vận nước, nhưng ngươi cũng đừng cả nghĩ nhiều, nếu Triệu vương dám đem quân sang xâm lược, quân ta dù ít nhưng ai ai cũng là tráng sĩ, hơn nữa lại có nỏ thần, không cần phải quá lo lắng." Cao Lỗ nghe vậy cũng không nói gì thêm. Ngày lành tháng tốt đã định, hai nước Âu Lạc và Triệu quốc liên hôn, trăm họ vui mừng. Trước khi Trọng Thủy sang nước Âu Lạc, Triệu Vương đã dặn dò "Chuyện quốc gia đại sự nhất định phải đặt lên hàng đầu, không được để chuyện nhi nữ tình trường gây cản trở, con đã nhớ chưa?" Trong Thủy vâng lời đáp "Vua cha cứ yên tâm, con đã ghi nhớ lời dặn." Triệu Đà vẫn chưa yên tâm, bèn cho gọi Hàn Sa- người sẽ đi theo Trọng Thủy đến Âu Lạc, nói "Nhà ngươi đi theo hoàng tử, nhớ lấy, luôn nhắc nhở hoàng tử về nhiệm vụ của mình, biết chưa?" Hàn Sa "Vi thần tuân chỉ, Vương hãy cứ yên tâm." Triệu Vương "Chỉ cần chuyện thành công, ngươi chắc chắn sẽ được trọng thưởng, ban phát đất đai ruộng vườn, người nhà được thăng tiến. Ta sẽ không bạc đãi ngươi." Trọng Thủy sang ở rể, hai người tình chàng ý thiếp sâu đậm, chàng từ lúc nhìn thấy Mị Châu, đã thật lòng yêu nàng. Qua một thời gian, khi mà mọi người đã không còn nghi ngờ, hắn bèn dụ dỗ Mị Châu cho xem nơi cất dấu nỏ thần "Nương tử của ta, từ ngày hai ta lấy nhau đã được ba năm, thế nhưng ta chưa làm được gì cho vua cha vui lòng, cùng lắm mới chỉ tham gia vài buổi huấn luyện binh sĩ, thân là phò mã, chuyện này cũng đáng xấu hổ." Mị Châu đáp "Chàng không cần phải lo nghĩ chuyện đó, hai nước liên hôn, con dân no ấm, như thế vua cha đã rất vui lòng." Trọng Thủy làm bộ "Nhưng ta còn muốn nhiều hơn thế, ta từ mấy tháng trước đã tìm hiểu cách chế tạo vũ khí, không thì.. không thì nàng hãy đưa ta đến nơi cất dấu nỏ thần, để ta có thể mở mang tầm mắt, biết cách làm thế nào để chế thêm những thứ binh khí lợi hại hơn." Mị Châu do dự "Nhưng, nơi cất nỏ thần là bí mật, vua cha không muốn để cho người ngoài biết.." "Ý nàng là, ta hóa ra cũng chỉ là người ngoài, ta không đáng tin như thế ư?" Nàng chưa nói hết câu, Trọng Thủy đã cướp lời, lại tỏ vẻ đau thương. Mị Châu thấy Trọng Thủy hiểu lầm ý mình, liền vội vàng nói "Chàng đừng nghĩ oan cho thiếp, chàng là phu quân của ta, ta làm sao lại nghĩ chàng là người ngoài được." Mị Châu đã bị nét mặt rầu rĩ của Trọng Thủy lừa gạt, nàng thầm nghĩ chàng cũng là vì muốn giúp vua cha, bèn đồng ý đưa chàng đến nơi cất giấu nỏ thần. Sau khi biết được nơi cất nỏ thần, Trọng Thủy lại do dự. Hàn Sa, người theo Trọng Thủy từ Triệu quốc tới đây, nhìn thấy vẻ do dự trên mặt chàng, bèn hỏi "Hoàng tử, ngài đang do dự điều gì sao?" Trọng Thủy ngẫm nghĩ hồi lâu, đáp "Nếu bây giờ ta tráo nỏ, đem về cho vua cha, liệu, liệu nàng có oán trách ta không?" Hàn sa ngước nhìn chàng "Hoàng tử, mong người lượng thứ cho thần nhiều lời, nhưng người là hoàng tử một nước, đây là việc đại sự, nếu như người hoàn thành việc này, chắc chắn ngôi báu sẽ về tay người." Hắn lại tiếp "Hơn nữa, cũng chỉ là một Mị Châu công chúa, nếu người thích thì có thể đem về Triệu quốc, đừng nói chỉ là nàng ta, nếu người muốn nạp thêm thê thiếp, cũng không ai dám cấm cản." Trọng thủy lạnh giọng "Ta lo chuyện đó sao?" Thấy nét mặt của chàng, hắn vội quỳ xuống "Xin Hoàng tử tha tội, là thần đã nói sai, là thần đã nói sai." "Đứng lên đi" Hàn Sa "Nhưng mà hoàng tử, người thử nghĩ xem, nếu người hoàn thành nhiệm vụ này, đánh tráo nỏ thần, thì Thục Phán chắc chắn sẽ thua dưới tay của Vương, đến lúc đó Triệu quốc mở rộng bờ cõi, đất đai, tiền của, dân, binh lính, của Âu Lạc đều là của chúng ta. Thục Phán sẽ trở thành nước chư hầu của Triệu Quốc, quan hệ lúc đấy nói đúng ra cũng không khác bây giờ là mấy, đợi mọi chuyện qua đi nhân dân bách tính hai nước vẫn ở yên làm lụng, chỉ khác ở chỗ, người phải cúi đầu sẽ là Thục Phán, là Âu Lạc, chứ không phải Triệu quốc ta, người nói có đúng không?" Trọng Thủy đã bị hắn thuyết phục, vì lợi ích gian sơn xã tắc Triệu quốc, hắn chỉ có thể ủy khuất nàng, đến lúc xong việc hắn sẽ đối xử tốt hơn nữa với nàng. Hàn Sa đem chiếc lẫy nỏ đã được làm giả cho Trọng Thủy. Tối hôm đó, nhân lúc binh lính canh gác sơ hở, lẫy nỏ thần đã bị đánh tráo. Vài ngày sau, Trọng Thủy lấy cớ về thăm cha "Vua cha, con muốn được về thăm cha con, người đang ốm bệnh, phận làm con đặt chữ hiếu lên đầu, mong được vua cha thành toàn." An Dương Vương gật đầu "Đương nhiên là được, chuyện này con không cần lo lắng, cứ về thăm cha con đi." Trước khi đi, chàng nói với Mị châu "Tình vợ chồng không thể lãng quên, ngiã mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?" Nàng không nghe ra hàm ý trong lời nói của phu quân, chỉ nghĩ là chàng đã quá lo lắng, bèn đáp "Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngống thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông lông mà rắc ở ngã ba đường làm dấu, như vậy có thể cứu được nhau." Trọng Thủy đem lẫy thần về nước, Triệu Vương được lấy cả mừng, bèn phái binh sang đánh. An Dương Vương thấy chuyện có ẩn tình, nhưng vì cậy có nỏ thần nên vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ "Không ngờ Đà lại lật lọng, hắn không sợ nỏ thần sao?" Đến lúc quân Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ, chỉ bắn ra được năm tên ít ỏi, đã biết cơ sự lẫy thần đã bị đánh tráo. Nhà vua tức giận, nhìn quân Đà đang phá cổng thành mà lòng như lửa đốt. Cao Lỗ vội vàng "Bệ hạ, không kịp rồi, người hãy mau đem công chúa chạy về phương Nam, chúng thần sẽ ở đây cầm chân bọn chúng." An Dương Vương nhìn vào mắt Cao Lỗ, quát "Ta thân là vua một nước, chuyện đến nước này la do ta đã quá chủ quan tin người, bây giờ sao có thể tự thân bỏ chạy mà để quân thần bách tính ở lại. Ta sẽ ở lại đây, ngươi hãy mang công chúa đi, bảo vệ công chúa an toàn." Cao Lỗ vội vã ngăn cản "Không được thưa bệ hạ, cũng bởi vì người là vua của Âu Lạc, nên nhất quyết không được để bị bọn chúng bắt giữ, nếu không người đời sẽ càng chê cười, chỉ cần người giữ được tính mạng, thần tin Âu Lạc sẽ có ngày trở mình." An Dương Vương "Nhưng.." "Xin bệ hạ thứ tội thần phạm thượng." Không đợi vua nói hết câu, Cao Lỗ bèn nâng AN Dương Vương lên ngựa, rồi bế công chúa lên sau, lấy giáo đánh vào ngựa. Con ngựa bị đau lao nhanh vun vút, hướng đến phương Nam. Vua chạy tới bờ biển, thấy không có thuyền qua, đến đường cùng bèn kêu lên "Trời hại ta, sứ Thanh Giang mau mau đến cứu." Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn "Kẻ ở sau ngươi chính là giặc đó!" An Dương Vương quay lại, nhìn thấy Trọng Thủy cùng tán quân đang đuổi theo, lại nhìn thấy dấu lông ngỗng trên mặt đất, liền hiểu ra mọi chuyện. An Dương Vương tức giận "Ngươi, người thân là công chúa một nước, lại đi tiếp tay cho giặc, kẻ phản đồ như ngươi xứng đáng nhận cái chết." Mị Châu quỳ xuống khấn rằng "Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù." Vua rút kiếm, chém đầu Mị Châu, máu của nàng chảy xuống biển, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển. Lúc Trọng Thủy đến nơi, chỉ còn xác của Mị Châu nằm đó, chàng ôm xác Mị châu, đau khổ tột cùng, ngửa mặt lên trời hét lớn "Không.." Đời truyền nơi đó là đất Dạ Sơn, xã Cao Xá, phủ Diễn Châu. Xác của nàng được đem về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Mị Châu đã chết, Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, lúc đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mị Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông, lấy nước giếng này mà rửa thì thấy trong sáng thêm, nhân kiêng tên Mị Châu cho nên gọi ngọc minh châu là đại cữu và tiểu cữu. an dương vương âu lạc kể chuyện lớp 10 mị châu trọng thủy
ĐÓNG VAI AN DƯƠNG VƯƠNG KỂ LẠI TOÀN BỘ CÂU CHUYỆN Trọng Thủy – Mị Châu là một truyền thuyết được nhắc đến muôn đời, tồn tại trong nhiều thế kỷ, là một trong những truyền thuyết được in hằn trong tâm trí của bất cứ con người Việt Nam nào. Mời bạn đọc cùng tham khảo bài viết kể lại câu chuyện Trọng Thủy – Mị Châu bằng ngôi kể của nhân vật An Dương Vương. Đóng vai An Dương Vương kể lại toàn bộ câu chuyện Mở bài Ta là Thục Phán An Dương Vương, là vị vua trị vì bờ cõi Âu Lạc xuất hiện trong câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy. Thoáng chốc hai mươi năm kể từ ngày ta theo Thần Kim Quy về chốn Thủy cung, thế nhưng việc đã xảy ra hai mươi năm trước vẫn ngày ngày hiển hiện trong tâm trí ta tựa như vừa hôm qua. Bấy nhiêu năm ta sống cùng với nỗi đau chứng kiến đất nước mà ta một tay gây dựng cùng với đứa con gái mà ta hết mực cưng chiều rơi vào tay kẻ thù. Đó có lẽ là bài học đắt giá nhất cuộc đời ta mà bất kể ai nghe qua cũng nên phải thấm thía trong lòng. Xem thêm Tóm tắt truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy Phân tích nhân vật An Dương Vương hay nhất có dàn ý Thân bài đóng vai An Dương Vương kể lại toàn bộ câu chuyện Năm ấy, sau khi lên trị vì đất nước, ta bèn nghĩ đến việc xây dựng một thành lũy kiên cố để bảo vệ sự an nguy đất nước. Oái oăm thay, từ lúc bắt đầu ta đã gặp rất nhiều khó khăn, đắp thành đến đâu lại lỡ đến đấy, điều đó khiến ta rất buồn lòng. Nghe bách tính mách bảo rằng vùng đất này còn vương vấn những linh hồn của những người tướng bại trận mà họ không cho ta thuận lợi đắp thành, ta đã lập đàn trai giới, cầu khấn sự phù hộ nơi thần linh. Dường như ơn trên đã nghe được sự cầu khấn, hiểu được tấm lòng của ta nên ngày mồng bảy tháng ba đã xứ một cụ già từ phương Đông đứng trước thành mà than rằng “ Xây dựng thành này bao giờ cho xong được”. Ta vừa ngờ ngợ nửa ngờ nửa tin nên sai quân lính mời cụ vào thành, ta tin rằng đây là người được trời phái đến giúp sức cho ta và nhân dân, cũng tin rằng lời nguyện cầu của Âu Lạc ta đã chạm đến thần linh. Thế nhưng thi lễ hỏi lý do đắp thành không thành, cụ chẳng trả lời ngay mà bảo rằng “Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công”. Một khoảng thời gian sau, trong một lần bơi thuyền trên hồ ngự cảnh ta thấy một con Rùa Vàng nổi lên từ lòng hồ, lạ kỳ thay Rùa Vàng nói rất sõi tiếng người. Rùa Vàng tự xưng là sứ Thanh Giang, nhớ ngay đến lời cụ già kỳ lạ đã mách thuở trước về việc quý nhân xuất hiện để giúp đỡ ta xây thành là sứ Thanh Giang, ta mừng rỡ vội dùng xe nghênh đón, rước Rùa Vàng vào thành. Quả thật Rùa Vàng là do trời phái đến để giúp sức Âu Lạc ta, kỳ lạ thay thành ngày trước hễ xây lại lỡ nay được khởi công xây dựng một cách trơn tru. Vì nó được xây theo dạng hình xoắn ốc nên được đặt tên là thành Cổ Loa. Nhìn tòa thành được xây dựng vững trãi, uy nghiêm ta không giấu được niềm vui sướng, ta tin rằng rồi thành Cổ Loa sẽ là thành trì đáng tin cậy bảo vệ an nguy của Âu Lạc ta. Vào vai An Dương Vương kể lại câu chuyện xưa Thế nhưng Rùa Vàng chỉ ở thành được ba năm rồi nói lời từ biệt. Trước khi đi khỏi, ta đã hỏi Rùa Vàng cách ứng phó khi giặc trở lại xâm lược nước mình bởi ta lo lắng cho an nguy của bá tánh và bởi khi Rùa Vàng đi khỏi cũng là lúc ta mất đi một cận thần đáng tin cậy. Trước khi đi, Rùa Vàng đã tháo vuốt của ngài ấy ra đưa ta và căn dặn “ Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa”. Ta nghe lời căn dặn của ngài, nhận lấy vuốt, trong lòng bỗng an tâm, vững tin hơn. Ngay lập tức, ta lệnh cho Cao Lỗ - Một vị tướng vô cùng tài giỏi mà ta tin tưởng chế tạo ngay một chiếc nỏ từ vuốt Rùa Vàng và đặt tên là “Linh quang Kim Quy thần cơ”. Thế nhưng thời khắc hòa bình kéo dài không lâu, đất nước ta lại ngợp bóng quân thù, Triệu Đà cử binh sang xâm lược nước ta. May mắn thay, Âu Lạc ta được sự giúp sức của nỏ thần nên bách chiến bách thắng, quân giặc bại trận, sợ hãi chạy về Trâu Sơn đắp lũy xin hòa. Chẳng mấy chốc, cả đất nước không còn một bóng giặc, giang sơn ta lại trở nên thái hòa. Bẵng đi một thời gian sau, Triệu Đà ngỏ ý muốn cầu hôn Mị Châu cho con trai, dùng cuộc hôn nhân này để giữ mối hòa hiếu và tình hữu nghị giữa hai nước. Ta cả tin chấp nhận ngay lời hắn và đến bây giờ ta nghĩ đó chắc chắn là sai lầm lớn nhất của đời ta. Ta chủ quan cho phép Trọng Thủy ở lại thành và chẳng nghĩ rằng cuộc hôn nhân được mưu tính này lại là con dao kết liễu cuộc đời ta. Trọng Thủy theo mưu tính của Triệu Đà đã thành công lợi dụng đứa con gái mà ta yêu nhất cho xem nỏ thần rồi dùng kế đánh tráo nó mang về phương Bắc. Có được nỏ thần trong tay, Triệu Đà không do dự ngay lập tức phái binh sang một lần nữa xâm lược Âu Lạc ta. Ta vì chủ quan, không hay rằng nỏ thần mà mình hết mực tin cậy đã bị đánh tráo nên không hề tỏ ra nao núng. Nhưng khi giặc đã áp đến sát thành, ta lúc này mới nhận ra tình cảnh éo le của bản thân, nỏ thần mà ta đang cầm trong tay là giả. Nó được chế tác trông giống nỏ thần thật đến từng chi tiết, vì lẽ đó mà suốt bao lâu qua ta chưa từng nhận ra. Xem thêm Phân tích nhân vật An Dương Vương Cảm nhận nhân vật Trọng Thủy hay nhất Bài học rút ra từ truyện An Dương Vương Tình cảnh cấp bách, thành Cổ Loa thất thủ, ta đành lên ngựa cùng Mị Châu nhằm về phương Nam mà chạy. Thế nhưng bất luận ta chạy đến đâu, quân giặc vẫn ráo riết lùng ra ta một cách dễ dàng. Mệt mỏi, bất lực, ta cứ chạy trong vô thức nhưng chỉ cần một tấc đất mà móng ngựa ta đã đặt lên, quân giặc đều phát hiện và đánh đuổi, chúng dồn ta đến bờ biển, ta lúc này mới phát hiện mình đang ở đường cùng. Ta đau đớn, bất lực mà hét lên “Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu”. Sóng biển bỗng vỗ mạnh dữ dội từng hồi, bọt biển trắng xóa cả một khoảng trời, thần Kim Quy bỗng nổi lên và hét lớn “Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó.” Ta quay người lại và không thể tin vào mắt mình, tất cả các cung đường nơi ta chạy trốn đều trắng xóa lông ngỗng, hóa ra đây chính là lý do dẫu ta có trốn tận chân trời quân Triệu Đà cũng dễ dàng phát hiện. Kẻ lại toàn bộ câu chuyện qua lời An Dương Vương Thế nhưng càng đau đớn hơn, ta nhận ra trên tay đứa con gái mà ta yêu nhất là chiếc áo lông ngỗng, ta không tin rằng đường đường là con gái của vị vua trị vì cả một giang sơn lại dễ dàng bán rẻ đồng bào ta cho giặc. Đau đớn, tức giận vì bị chính đứa con của mình phản bội ta đau lòng tuốt kiếm chém Mị Châu. Mị Châu lúc này khấn với ta “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối thù”. Tuy nó là máu mủ, là ruột rà của ta nhưng với cương vị là người đứng đầu cả một dân tộc, phản nghịch bất trung là tội mãi mãi không thể tha thứ. Ta đành bỏ lại cả một giang sơn ở sau lưng, cùng bao đau đớn, căm thù theo Rùa Vàng rẽ nước đi sâu xuống đáy biển khơi. Về sau ta nghe được rằng, khi Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước trai ăn vào tạo thành hạt châu. Trọng Thủy đến đó, thấy tân nương của mình đã chết, mang xác về thành mai táng, linh thiêng thay, xác con gái ta lại biến thành ngọc thạch. Ta từng căm giận cha con Trọng Thủy đến tột cùng nhưng khi nghe kể Trọng Thủy vì đau đớn, nhớ mong Mị Châu mà không chịu nổi rốt cuộc lại tự tử ở giếng, ta cũng không khỏi đau xót. Tương truyền nước ở giếng ấy rửa ngọc ở biển Đông lại sáng và đẹp vô cùng. Xem thêm Dàn ý phân tích truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy Bài mẫu phân tích truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy Kết bài Câu chuyện đau thương của ta về sau vẫn được truyền đến muôn đời, trở thành bài học mà mỗi khi nhớ lại ta đều cảm thấy đau xót bởi nó được trả giá bằng cả tính mạng của con gái ta. Chỉ vì những phút giây lơ là, thiếu cảnh giác cùng những chủ quan mà ta đã đánh mất cả một giang sơn và Mị Châu – người ta yêu quý nhất. Đó mãi mãi là bài học xương máu mà ta dùng cả đời khắc trong tim.
A. SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý B. DÀN BÀI CHI TIẾT I. Mở bài - Giới thiệu về chính mình theo nhân vật An Dương Vương và dẫn dắt đến câu truyện - Ta là An Dương Vương, vị vua của nước Âu Lạc năm nào. Nhớ năm xưa, chuyện ta dựng nước rồi làm mất nước mà đau đớn vô vàn. Đó có lẽ là bài học đắt giá nhất cuộc đời ta, và có lẽ là bài học thấm thía mà bất cứ ai cũng nên ghi khắc trong lòng. II. Thân bài Kể lại các sự kiện theo diễn biến của câu chuyện qua lời kể của nhân vật An Dương Vương - Năm đó, sau khi lên ngôi vua, ta bèn nghĩ việc xây dựng một thành lũy kiên cố để bảo vệ đất nước nhưng oái oăm thay khi xây thành hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. - Khi nghe mọi người nói rằng vùng đất nơi còn vương vấn những hồn ma của các vị tướng bại trận mà họ không cho ta thuận lợi đắp thành, ta lập đàn trai giới, cầu xin thần linh phù hộ. - Dường như ông trời đã ở nghe được lời muôn dân khẩn cầu, ngày mồng bảy tháng ba, một cụ già từ phương Đông đứng trước cửa thành mà than rằng “ Xây dựng thành này bao giờ cho xong được”, lấy làm lạ, ta bèn cho mời cụ vào thành - Khi biết đây là người trời phái đến giúp sức, ta mừng rỡ đón cụ già vào trong điện, thi lễ hỏi lý do đắp thành mãi không xong thì cụ già trả lời “ Sẽ có xứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công”, rồi từ biệt ra về. - Sau đó, trong một lần ta bơi thuyền trên hồ, một con Rùa Vàng bất ngờ nổi lên mặt nước, nói sõi tiếng người, xưng là sứ Thanh Giang, ta mừng rỡ vội vã dùng xe nghênh đón, rước Rùa Vàng vào thành. - Nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng, sau nửa tháng thì thành được xây xong, với hình dạng xoắn ốc, người ta gọi là thành Cổ Loa. - Rùa Vàng ở với thành ta được ba năm rồi ra về, ta bèn hỏi Rùa Vàng cách ứng phó khi giặc trở lại xâm lược nước mình. - Trước khi đi, Rùa Vàng tháo vuốt đưa ta, dặn “ Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa”. - Nghe lời thần Kim Quy, ta ngày lập tức lệnh cho Cao Lỗ - một vị tướng vô cùng tài giỏi - làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy và đặt tên là “ Linh quang Kim Quy thần cơ”. - Chẳng bao lâu sau, quân Triệu Đà cử binh xâm lược nước ta, ta lấy nỏ thần ra bắn, làm quân giặc khiếp sợ và thua trận, chạy về Trâu Sơn đắp luỹ và xin hoà. - Một thời gian sau, Triệu Đà cầu hôn cho con trai, tỏ ý dùng cuộc hôn nhân giữ mối hoà hiếu cho hai quốc gia. - Ta cả tin chấp thuận gả con gái xinh đẹp Mị Châu cho Trọng Thuỷ và để cho hắn ở lại cung. - Nhưng quyết định đó quả thật là sai lầm vì ta đã vô cùng chủ quan không nghĩ đến rằng, con rể lại dụ dỗ Mị Châu cho xem nỏ thần rồi đánh tráo nỏ thần mang về phương Bắc. - Có được nỏ thần, Triệu Đà mang quân đến đánh, ỷ vào nỏ thần trong tay, ta không hề lộ sợ. - Nhưng éo le thay, khi ta biết nỏ kia không phải nỏ thần thì quá muộn, giặc đã tiến sát thành, ta phải cùng Mị Châu lên ngựa bỏ chạy về phương Nam. - Càng chạy thì ta vẫn thấy giặc đuổi theo sau. Đến tới bờ biển, ta biết đó là đường cùng. - Ta bèn kêu rằng “ Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” Rùa Vàng từ dưới nước xuất hiện, thét lớn “ Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. - Ta bất ngờ quay lại, và không thể tin vào mắt mình khi nhìn thấy đường rải đầy lông ngỗng, đây chính là lí do mà giặc có thể lần theo ta - Trên tay con gái Mị Châu là áo lông ngỗng, ta hiểu ra chuyện, vô cùng tức giận và đau lòng mà tuốt kiếm chém Mị Châu. - Mị Châu thấy vậy, bèn khấn với ta “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù” - Dù đau lòng nhưng đứng trước kẻ phản nghịch, tội đồ quốc gia ta không thể tha thứ với cương vị một người đứng đầu đất nước. - Ta theo Rùa Vàng rẽ nước xuống biển. - Về sau, ta được nghe rằng khi ấy Mị Châu con ta chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai ăn vào tạo thành hạt châu. Trong Thuỷ đến đó, thấy con ta đã chết, ôm xác về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. - Thì ra khi con gái ta chết, Trọng Thuỷ cũng đau đớn, nhớ mong mà tự tử ở giếng. Nước giếng đó rửa ngọc ở biển Đông thì ngọc vô cùng sáng và đẹp. III. Kết bài - Nêu lên bài học và ý nghĩa từ truyền thuyết. C. BÀI VĂN MẪU Đề bài Em hãy vào vai nhân vật An Dương Vương để kể lại truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy Gợi ý làm bài 1. Bài văn mẫu số 1 Trời đã vào thu, cảnh vật dường như tĩnh lặng hơn vì thế lòng người cũng trở nên buồn bã lạ thường. Cảnh làm cho tôi nhớ lại chuyện năm xưa – chuyện mà tôi hằng muốn quên, nhưng cứ mỗi lần nhớ lại làm tôi nhói đau. Chuyện là Tôi chính là An Dương Vương – nhà vua nước Âu Lạc trong câu chuyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy. Năm ấy, tôi được dân chúng khắp đất nước ngợi ca, ngưỡng mộ vì công lao xây thành Cổ Loa. Chẳng là, ban đầu, vua tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc xây thành, hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy, khiến tôi rất buồn lòng. Dường như, thần linh thấu hiểu được nỗi lòng mình, nên đã cử Rùa Vàng từ phương Đông đến, tự xưng mình là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, giúp tôi xây thành. Tôi đã rất mừng rỡ vì được thần giúp. Nửa tháng sau, thành được xây xong. Vì nó có hình xoắn như trôn ốc, nên gọi là Loa Thành, còn gọi là Quý Long Thành, nó cao và uy nghi lắm. Trước khi Rùa Vàng ra về, có tặng tôi một chiếc vuốt và nói rằng vận nước là do mệnh trời nhưng con người có thể kéo dài thời vận nếu biết tu nhân tích đích, dặn tôi hãy lấy vuốt này để làm một chiếc lẫy, nếu có giặc thì lấy làm vũ khí giết giặc. Và khi được nghe lời đó, ngày hôm sau ta đứng ngoài cửa đông chờ đợi, và bất ngờ thấy một con Rùa Vàng bỗng nhiên nổi lên mặt nước, nói sõi tiếng người, tự xưng là sứ Thanh Giang, ta mừng rỡ vội vã dùng xe nghênh đón, rước Rùa Vàng vào thành. Cũng chính nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng, thành sau nửa tháng thì xong. Ngắm nhìn thành mới mà lòng ta vui sướng. Thành rộng hơn ngàn trượng, xoắn ốc nên ta gọi nó là Loa Thành sừng sững và vững chắc lắm. Rồi Rùa Vàng ở với thành ta được ba năm rồi ra về. Trước khi ra về thì Rùa Vàng cũng đã bày tỏ lòng thành kính cảm tạ và hỏi thần nếu giặc đến, làm thế nào giữ nước. Rùa Vàng nghe hỏi rồi tháo vuốt đưa ta, dặn đi dặn lại rằng “ Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa”. Vui mừng lắm, khi nghe lời thần, ta đưa Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy và đặt tên là “ Linh quang Kim Quy thần cơ”. Chỉ trong thời gian sau, quân Triệu Đà cử binh xâm lược nước ta, ta lấy nỏ thần ra bắn, làm quân giặc khiếp sợ và thua trận, chạy về Trâu Sơn đắp luỹ và xin hoà. Đất nước thái bình và ta cũng không còn lo lắng gì nhiều nữa. Cuộc sống cứ thế trôi đi, thanh bình, tôi dường như quên hẳn câu chuyện Rùa vàng cùng sự có mặt của chiếc nỏ thần. Thế nhưng, Triệu Đà đến từ phương Bắc mang quân sang xâm lược nước ta, ta đã dùng cái nỏ ấy tiêu diệt sạch quân giặc. Triệu Đà bèn phải xin hòa Chẳng bao lâu sau cuộc chiến tranh đó, vua Đà sang xin cầu hôn con gái ta là Mị Châu cho Trọng Thủy – con trai hắn. Ta đã làm một hành động ngu ngốc, đó là gả Mị Châu cho Trọng Thủy, việc mà về sau này người đời gọi là ta gián tiếp bán nước. Ta nào đâu có biết được những âm mưu thâm độc của cha con nhà Triệu Đà. Trọng Thủy sau khi làm rể ta chẳng được bao lâu thì xin về nước thăm cha. Ta đã đồng ý mà không biết rằng trong thời gian ở Âu Lạc, Trọng Thủy đã lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của Mị Châu con gái ta để xem trộm nỏ thần rồi ngầm làm một cái khác thay vuốt Rùa Vàng. Trọng Thủy về nước mang theo nỏ thần mà không ai hay biết. Đến một ngày, đó là một ngày bình thường như bao ngày khác. Cha con Triệu Đà cử binh sang đánh nước ta. Lúc ấy, vì nghĩ có nỏ thần, nên ta đã chủ quan, nghĩ rằng mình sẽ thắng quân giặc. Nào ngờ, nỏ thần đã bị đánh cắp. Không còn con đường nào khác, cha con ta đã phải cùng nhau chạy về phương Nam. Khi càng chạy thì ta vẫn thấy giặc đuổi theo sau. Khi đã bỏ chạy đến tới bờ biển, ta biết đó là đường cùng. Ta không còn cách nào và nhớ ra sứ Thanh Giang bèn kêu rằng “ Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” Rùa Vàng từ dưới nước xuất hiện, thét lớn cho ta biết rằng “ Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Lúc này ta bất ngờ quay lại nhìn thấy đường rải đầy lông ngỗng, và trên tay con gái Mị Châu là áo lông ngỗng, ta hiểu ra chuyện và vô cùng tức giận. Không thể chịu được ta tức giận vừa đau lòng mà tuốt kiếm chém Mị Châu. Mị Châu thấy vậy thì cũng khấn với ta “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Cho dù rất đau lòng nhưng là một kẻ phản nghịch, tội đồ quốc gia ta không thể tha thứ với cương vị một người đứng đầu đất nước. Rồi ta theo Rùa Vàng xuống biển. Mị Châu con ta lúc đó chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai ăn vào tạo thành hạt châu đúng như lời con khấn. Khi con rể Trọng Thuỷ đến đó, thấy con ta đã chết, ôm xác về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Con ta chết, thì Trọng Thuỷ cũng đau đớn, nhớ mong mà tự tử ở giếng. Nước giếng đó rửa ngọc ở biển Đông thì ngọc vô cùng sáng và đẹp điều này minh chứng cho sự ngây thơ và khờ dại của Mị Châu. Sau này, nhân dân tương truyền rằng. Cha con Triệu Đà lúc ấy đến bờ biển không thấy ta đâu mà chỉ thấy xác Mị Châu. Trọng Thủy vì quá đau lòng mà ôm xác vợ hỏa táng, Mị Châu biến thành ngọc thạch. Kể từ khi mất Mị Châu, Trọng Thủy vô cùng đau buồn nên đã nhảy xuống giếng tự tử. Người đời sau khi mò được ngọc ở biển đông, rửa vào giếng nước ấy thì ngọc trong sáng hơn, đẹp hơn. 2. Bài văn mẫu số 2 Ta xin giới thiệu ta chính là An Dương Vương và cũng là vị vua của nước Âu Lạc năm nào. Ngồi nhớ lại chuyện xưa khi ta dựng nước đã rất khó khăn nhưng khi dựng xong lại không giữ được nước. Với ta đây thực sự là một bài học không bao giờ ta quên vì nó còn để lại trong ta những nỗi đau đến vô vàn. Ta vẫn còn nhớ như in vào năm đó, sau khi lên ngôi vua, ta bèn nghĩ việc xây thành. Nhưng khốn đốn thay biết bao nhiêu, khi ta xây thành ở đất Việt Thường hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. Ta cũng nghe nói vì đất nơi này còn vương vấn những hồn ma của các vị tướng bại trận trước đây mà họ không cho ta thuận lợi đắp thành. Lúc đó ta lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần và mong muốn có được người hiền tài đến giúp ta việc xây thành. Và quả nhiên vào ngày mồng bảy tháng ba thì ta bỗng thấy một cụ già từ phương Đông đứng trước cửa thành mà than một câu rằng “Xây dựng thành này bao giờ cho xong được”. Khi thấy vậy ta mừng rõ lắm và nhanh chóng đón vào trong điện và hỏi lý do vì sao ta đắp thành mà mãi không được. Lúc đó thì cụ già kia trả lời ta rằng “ Sẽ có xứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công”, rồi từ biệt ra về. An Dương vương bắt tay ngay vào việc xây thành nhưng ngặt nỗi cứ ngày xây lên đêm lại đổ xuống, mãi không xong. Nhà vua bèn sai các quan lập đàn để cầu đảo bách thần, xỉn thần linh phù trợ. Ngày mồng bảy tháng ba năm ấy, nhà vua bỗng thấy cỏ một cụ già râu tóc bạc phơ, tay chống cây gậy trúc, thong thả từ phía Đông đi tới trước cổng thành, ngửa cổ mà than rằng “Xây dựng thành này biết bao giờ cho xong được!”. Mừng rỡ, An Dương Vương rước cụ già vào trong điện, kính cẩn hỏi rằng “Ta đắp thành này đã tốn nhiều công sức mà không được, là cớ làm sao?”. Cụ già thong thả đáp “Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thì mới thành công”. Nói xong, cụ già từ biệt ra đi. Sáng hôm sau, có một con rùa lớn nổi lên mặt nước, tự xưng là sứ Thanh Giang, bảo với An Dương Vương rằng muốn xây được thành thì phải diệt trừ hết lũ yêu quái thường hay quấy nhiễu. Quả nhiên, sau khi Rùa Vàng giúp nhà vua diệt trừ yêu quái thì chỉ khoảng nửa tháng là thành đã xây xong. Thành xây theo hình trôn ốc, rộng hơn ngàn trượng nên gọi là thành Ốc hay Loa Thành. Rùa Vàng ở lại ba năm thì ra đi. Lúc chia tay, An Dương vương cảm tạ nói “Nhờ ơn Thần mà thành đã xây xong. Nay nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống?”. Rùa Vàng tháo một chiếc vuốt trao cho An Dương Vương, dặn hãy lấy làm lẫy nỏ. Giặc đến, cứ nhằm mà bắn thì sẽ không lo gì nữa. Dứt lời, Rùa Vàng trở về biển Đông. Nhà vua sai một tướng tài là Cao Lỗ chế ra chiếc nỏ lớn lấy vuốt của Rùa Vàng làm lẫy. Đó là nỏ thần Kim Quy. Một thời gian sau, Triệu Đà đem quân sang xâm lược, vua bèn lấy nỏ thần ra bắn. Quân của Triệu Đà thua to, bèn cầu hòa. Chính nhờ yếu tố thần kì về Rùa Vàng đã giúp An Dương Vương đạt được ý nguyện chính đáng mà cũng phù hợp với ý nguyện của nhân dân, của trời đất. Chẳng bao lâu sau, Triệu Đà cầu hôn. An Dương Vương gả con gái của mình là Mị Châu cho con trai của Đà là Trọng Thủy. Trọng Thủy lừa Mị Châu cho coi lẫy rời làm một cái khác thay thế cho vuốt Rùa Vàng. Trọng Thủy nói dối Mị Châu để chạy về phương Bắc. Sau khi có được nỏ thần, Triệu Đà đem quân sang xâm chiếm. An Dương Vương chủ quan nên đã bị thất bại. Ta thấy được bi kịch mất nước Âu Lạc là do sự chủ quan của An Dương Vương và Mị Châu. An Dương Vương làm mất nước do chủ quan, khinh địch, mất cảnh giác với kẻ thù. Mị Châu đã mất cảnh giác khi cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Mị Châu đã đặt chữ tình, đặt nặng trách nhiệm của một người vợ lên trên quốc gia, dân tộc. Lời kết tội của Rùa Vàng “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó” đại diện cho công lí, đứng trên quyền lợi của nhân dân, tổ quốc để phán xét hành động vô tình phản quốc của Mị Châu. Khi chém chết Mị Châu, An Dương Vương đã đứng vào quyền lợi của quốc gia, tổ quốc để phán xét Mị việc mất nước Âu Lạc, ta rút ra được bài học là cần phải biết xử lí đúng đắn mối quan hệ chung va riêng, cá nhân và nhà nước. Mị Châu đã không đặc trách nhiệm lên trên tình cảm để rồi gây ra việc mất nước. Sau khi giết chết Mị Nương, An Dương Vương đã cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước theo Rùa Vàng đi xuống biển. Sự việc này chứng tỏ rằng An Dương Vương không chết trong lòng của nhân dân, có được sự tôn trọng, ủng hộ của nhân dân. Nhận thấy những chiếc lông ngỗng mà Mị Châu rải trên đường đã giúp dẫn đường cho quân địch và ta đã hiểu rằng chỉ vì sự cả tin của Mị Châu mà nỏ thần bị đánh cắp. Ta hét lớn và vung kiếm chém chết đứa con gái yêu quý. Nước mất nhà tan, quá thất vọng ta đành vung kiếm tự tử nhưng thần Kim Quy cứu mạng bằng cách dùng năng lực rẽ nước giúp ta đi xuống biển. Ở đời vì quá tin người và mất cảnh giác trước kẻ địch đã khiến cả cơ đồ bị hủy hoại trong phút chốc. Đây là bài học thấm thía mà ta và cả thế hệ mai sau phải khắc ghi. -Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp-
Đóng vai Mị Châu kể lại câu chuyện An Dương VươngĐóng vai nhân vật Mị Châu kể lại câu chuyện các giúp bạn hiểu rõ hơn về câu chuyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy cũng như tâm trạng của Mị Châu sau khi thấy được sai lầm mà bản thân đã tạo ra. Top 6 bài phân tích nhân vật Mị Châu siêu haySau đây là nội dung chi tiết tổng hợp các bài văn mẫu đóng vai Mị Châu kể lại truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy hay và chi tiết sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các bạn học sinh. Mời các bạn cùng tham Hãy đóng vai Mị Châu để kể lại câu chuyệnĐược mệnh danh là một người con gái có tính tình hiền thục, đoan trang, nết na, thùy mị lại có gương mặt sắc nước hương trời. Tôi – Mị Châu là con gái yêu quý của vua hùng An Dương Vương. Vì ngây thơ trong sáng không biết được âm mưu thâm độc của kẻ thù nên tôi đã bị người lừa dối, phạm vào tội hại cha bán nước. Đối với tôi đó là một bài học để đời và khiến tôi vô cùng ân tôi là một vị vua có tấm lòng yêu nước, thương dân. Ông tìm ra mọi cách để bảo vệ cho đất nước, giữ cho mọi người dân có cuộc sống bình yên. Vì thế, ông đã quyết định xây thành ở đất Việt Thường. Nhưng chẳng hiểu sao, khi cha tôi cho người đắp đất đến đâu thì lở đến đấy, xây mãi không thành. Do vậy, tôi quyết định lập đàn cầu xin thần linh giúp đỡ. Cuối cùng có một con rùa vàng từ phương đông tìm đến xưng là thần Kim Quy, thông rõ việc trời đất đã ở lại và giúp cha tôi xây thành. Nữa tháng sau, một ngôi thành kiên cố, tráng lệ đã sừng sững đứng giữa đất trời trong niềm vui sướng ngập tràn của vua quan và dân chúng. Ba năm sau, rùa vàng từ giã hoàng cung. Trước khi ra về, Thần Kim Quy đã tặng cho cha tôi một cái móng vuốt bảo cha tôi làm lẫy nỏ. Hể giặc đến, cứ lấy nhằm vào quân giặc mà bắn thì vận nước sẽ đặng dài lâu. Vua sai Cao Lỗ người làm nỏ giỏi nhất Loa Thành làm một cái nỏ lớn rồi lấy vuốt rùa làm Đà sang xâm lược nước Nam. Vua cha tôi đã có dịp sử dụng chiếc “linh quang kim quy” thần cơ mà rùa vàng ban tặng. Thật vậy, chiếc nỏ thần đã phát huy công dụng một cách thần kì. Chỉ cần một phát bắn ra là hàng vạn quân địch ngã xuống. Nước ta thắng lớn và mở hội ăn mừng. Triệu Đà thua tâm phục khẩu phục và phải xin cầu hòa. Cha tôi đã nhận lời cầu hòa. Có lẽ đó là một sai lầm to lớn trong cuộc đời bao lâu, Triệu Đà cho người sang cầu hôn tôi cho con trai là Trọng Thủy. Với vẻ điển trai của chàng và sự thu hút mãnh liệt, chàng đã khiến tôi siêu lòng ngay lần đầu gặp gỡ mà lòng chẳng chút nghi ngờ. Cha tôi cũng thế, ông đã nhận lời cầu hôn của địch. Không những vậy, ông còn cho kẻ thù vào nhà ở rể chẳng khác nào “nuôi ong tay áo” mà chẳng hề hay một thời gian sống bên nhau tôi nhận ra tôi yêu và tin tưởng chàng tuyệt đối và chàng cũng vậy. Tôi cảm nhận được sự yêu thương qua từng câu nói, hành động của chàng. Vào một đêm nọ khi đang ngắm hoa ở ngự hoa viên, chàng khe khẽ hỏi tôi về chuyện lúc trước. Vì sau cha lại có thể thắng lớn trong tích tắc như vậy? Không một chút hoài nghi, tôi kể lại tường tận câu chuyện cho người chồng yêu hiểu. Rồi sau đó chàng bảo chưa thỏa sự tò mò và ngỏ lời muốn xem trộm nỏ thần. Xem chàng là người nhà nên tôi đã lén cha dẫn chàng vào nơi cất giấu nỏ. Xem xong tôi cùng chàng về phòng và không biết chuyện gì xảy ngày sau bỗng Trọng Thủy đến bên tôi và bảo rằng “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể vứt bỏ ta. Nay về phương bắc thăm cha, nếu mai hai nước bất hòa, Bắc Nam cách biệt ta tìm nàng lấy gì mà làm dấu?”. Tôi nghẹn ngào đáp rằng “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh cách biệt thì đau xót khôn nguôi. Thiếp có tấm áo choàng lông ngỗng thường mặc trên người, đi đến đâu thiếp sẽ bứt lông ngỗng rắc ở ngã ba đường làm dấu, ta sẽ cứu được nhau”.Vừa sáng hôm sau Trọng Thủy về nước. Tôi ở nhà chờ tin, chờ chồng thì mãi không thấy về nhưng quân giặc thì đã kéo đến. Cha tôi vì chủ quan đã có nỏ thần nên đã thản nhiên ngồi đánh cờ, không lo giặc đến. Đến khi lấy nỏ ra, dường như chiếc nỏ thần đã mất đi công dụng. Ông không kịp trở tay và chẳng làm được gì khác ngoài việc bảo toàn tính mạng. Cha tôi phải ngậm ngùi nhìn cảnh nước mất nhà tan mà bỏ trốn. Dù thế cha tôi cũng không quên con gái yêu của mình. Cha đã đặt tôi lên lưng ngựa phía sau ông rồi chạy mãi về phía Nam. Đến đường cùng không còn cách thoát thân, cha tôi xin cầu cứu rùa vàng. Rùa hiện lên bảo”Kẻ ngồi sau lưng ngươi là giặc”. Cha tôi nghe vậy liền rút kiếm toan chém đầu tôi vì quá tức khi chết tôi khấn rằng “Thiếp là phận con gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha chết đi sẽ thành cát bụi. Còn nếu một lòng trung hiếu mà bị người đời lừa dối thì chết đi sẽ biến thành ngọc châu để rửa sạch nỗi nhục thù”. Vậy là tôi đã ra đi trong sự uất hận và tự trách bản thân mình vì nhầm tưởng giặc là bạn. Tôi hối hận vì không nghĩ ra được Trọng Thủy đã tráo nỏ thần. Tôi không nhận ra câu nói ẩn ý của hắn trước khi về nước. Giờ đây, khi mà bi kịch ập đến tôi mới muộn màng nhận khi tôi chết, máu tôi chảy xuống biển, trai ăn phải biến thành hạt châu. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng tìm đến xác tôi đem về Loa Thành mai táng. Xương tôi hóa thành ngọc thạch. Không lâu sau, vì thương nhớ tôi Trọng Thủy đã gieo mình xuống giếng vì thấy bóng tôi. Về sau, người đời đã lấy ngọc châu ở biển đem rửa với nước giếng thì thấy ngọc càng sáng. Điều đó chứng minh tôi trong sáng và tình yêu nghiệt ngã của tôi và chàng. Lẽ ra chúng tôi sẽ có mối tình đẹp nếu không phải chịu ảnh hưởng của chiến tranh. Là người phụ nữ nhưng tôi đã gánh chịu những đau đớn của cảnh nước mất nhà tan và tình yêu tan vỡ. Đó là cái giá quá đắt dành cho đất nước tôi và đất nước vì sự ngây thơ của câu chuyện đau lòng của tôi, tôi khuyên các bạn nên đề cao cảnh giác với các thế lực thù địch luôn hâm he nước ta. Ta phải cố gắng luôn luôn sẵn sàng để chiến đấu, không để cảnh lầm than phải xảy ra thêm một lần nào nữa. Vì chiến tranh đã làm cuộc sống của mọi người phải lầm thang đau khổ. Đó cũng là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người dân chúng ta đối với đất Đóng vai Mị Châu kể lại truyện An Dương Vương, Mị Châu, Trọng ThủyTôi là Mị Châu, con gái của vua An Dương Vương. Được vua cha yêu thương hết mực nhưng tôi cũng gieo vạ lớn cho cha và đất nước vì nhẹ dạ và ngây thơ tin người. Câu chuyện của tôi là một bài học đắt giá để người đời soi vào, lấy đó làm lòi răn về sự cảnh giác. Cho đến tận bây giò cái cảm giác đau đớn vì bị phản bội vẫn còn âm ỉ trong khi giúp cha tôi xây thành cổ Loa, thần Kim Quy cho cha tôi một cái móng của mình để làm lẫy nỏ mà giữ thành. Theo lời thần dặn, nỏ có được cái lẫy làm bằng móng chân thần sẽ là chiếc nỏ bắn trăm phát trúng cả trăm, và chỉ một phát có thể giết hàng ngàn quân địch. Cha tôi chọn trong đám gia thần được một người làm nỏ rất khéo tên là Cao Lỗ và giao cho Lỗ làm chiếc nỏ thần. Lỗ gắng sức trong nhiều ngày mới xong. Chiếc nỏ rất lớn và rất cứng, khác hẳn với những nỏ thường, phải tay lực sĩ mới giương nôi. Cha quý chiếc nỏ thần vô cùng, lúc nào cũng treo gần chỗ bấy giờ Triệu Đà chúa đất Nam Hải, mấy lần đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì cha tôi có nỏ thần, quân Nam Hải bị giết hại rất nhiều nên Đà đành cố thủ đợi chờ thòi cơ. Triệu Đà thấy dùng binh không được, bèn xin giảng hòa với cha tôi, sai con trai là Trọng Thuỷ sang cầu thân, nhưng chủ ý là tìm cách phá chiếc nỏ thần. Điều này thì về sau, khi quân đà kéo sang và nỏ thần không còn hiệu nghiệm, cùng cha bỏ trông tôi mới vỡ lẽ. Trong những ngày đi lại để giả kết tình hoà hiếu, Trọng Thuỷ gặp tôi. Lúc bấy giờ tôi là một cô gái mới lớn, một thiếu nữ mày ngài, mắt phượng. Trọng Thuỷ đem lòng yêu tôi, tôi dần dần cũng xiêu lòng. Và dần trở nên thân thiết, không còn chỗ nào trong Loa thành mà tôi không dẫn chàng đến xem. Cha tôi không nghi kỵ gì cả. Thấy đôi trẻ thương yêu nhau, vua liền gả tôi cho Trọng Thuỷ. Chàng cùng chung sống trong cung điện với tôi. Một đêm trăng sao vằng vặc, trong câu chuyện tỉ tê, Trọng Thuỷ hỏi Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được? Tôi vô tư đáp- Có bí quyết gì đâu chàng, Âu Lạc đã có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần bắn một phát chết hàng nghìn quân địch, như thế còn có kẻ nào đánh nổi được?Chàng ngỏ ý muốn xem chiếc nỏ. Tôi không ngần ngại, ngây thơ chạy ngay vào chỗ nằm của cha, lấy nỏ thần đem ra cho chồng xem, lại chỉ cho chàng biết cái lẫy vốn là chiếc móng chân thần Kim Quy và giảng cho Trọng Thủy cách bắn. Trọng Thủy chăm chú nghe, chăm chú nhìn cái lẫy, nhìn khuôn khổ cái nỏ hồi lâu, rồi đưa cho tôi cất đó, Trọng Thủy xin phép cha tôi về Nam Hải, Trọng Thủy thuật lại cho Triệu Đà biết về chiếc nỏ thần. Đà sai một gia nhân chuyên làm nỏ, chế một chiếc lẫy nỏ giống hệt của An Dương Vương. Lẫy giả làm xong, Trọng Thủy giấu vào trong áo, lại trở sang Âu Lạc. Thừa lúc bố tôi không để ý, Trọng Thủy đánh tráo ăn cắp nỏ Thủy lấy cớ "nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ" nói dối về phương Bắc thăm cha. Tôi buồn rầu lặng thinh, Trọng Thủy nói tiếp Bây giò đôi ta sắp phải xa nhau, không biết đến bao giở gặp lại! Nếu chẳng may xảy ra binh đao, biết đâu mà tìm?Tôi tin lời chàng ngay, lòng đau đớn nói- Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy về hướng nào thì thiếp sẽ rắc lông ngỗng ở ngã ba đường, chàng cứ chạy theo dấu lông ngỗng mà đất Nam Hải, Trọng Thủy đưa cái móng rùa vàng cho cha. Chỉ ít ngày sau, Triệu Đà đã ra lệnh cất quân sang đánh Âu Lạc. Nghe tin bao, cha cậy có nỏ thần, không phòng bị gì cả. Đến khi quân giặc đã đến sát chân thành, cha sai đem nỏ thần ra bắn thì không thấy linh nghiệm nữa. Quân Triệu Đà phá cửa thành, ùa vào. Cha vội lên ngựa, để tôi ngồi sau lưng, phi thoát ra cửa sau lưng cha, tôi bứt lông ngỗng ở áo rắc khắp dọc chạy luôn mấy ngày đêm đến Dạ Sơn gần bờ biển. Hai cha con định xuống ngựa ngồi nghỉ thì quân giặc đã gần đến. Không còn lối nào chạy, cha liền hướng ra biển, khấn thần Kim Quy phù hộ cho mình. Cha vừa khấn xong thì một cơn gió lốc cát bụi bốc lên mù mịt, làm rung chuyển cả núi rừng. Thần Kim Quy xuất hiện, bảo cha rằng- Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!Cha tỉnh ngộ, tôi cũng đau đớn hiểu ra sự tình, nguyện sinh nhận cái chết để chuộc lỗi lầm khủng khiếp mà mình đã gây ra. Tuy vậy lòng tôi không khỏi ân hận. Tôi tự trách mình đã gây ra cảnh mất nước, trách Trọng Thủy lợi dụng tình yêu của câu chuyện của chính mình, tôi khuyên các bạn lúc yêu đừng nên mù quáng mà đánh mất chính mình, đừng để sai lầm của mình mà tạo ra sự mất mát và đau khổ của người khác. Tôi cố gắng làm những việc tốt để mong bù lại tội lỗi mà mình đã gây Tưởng tượng mình là nhân vật Mị Châu kể lại toàn bộ câu truyện"Tôi kể ngày xưa chuyện Mị ChâuTrái tim lầm chỗ để trên đầuNỏ thần vô ý trao tay giặcNên nỗi cơ đồ đắm biển sâu."Đó là một bài thơ mà người sau đã kể lại sự việc tai họa của tôi. Tôi là Mị Châu con gái của vua An Dương Vương. Ông yêu thương tôi hết mực, chiều chuộng con gái. Ấy vậy mà vì sự ngu ngốc của mình tôi đã trở thành tội đồ của cả dân tộc, được thế hệ sau nhắc đến như một bài học đắt giá cho sự cảnh giác. Câu chuyện quanh một chiếc bảo bối thần kì - chiếc Nỏ thần và người đàn ông mà tôi yêu thương nhẹ dạ cả tin, đã cho tôi một bài học lớn trong cuộc đời ấy, cha tôi cho xây thành Cổ Loa, nhưng xây mãi mà vẫn bị đổ. Trong lúc gặp khó khăn đó, may thay nhờ thần Kim Quy cứu giúp, cha tôi đã xây dựng được một khung thành vững chắc, đào hào sâu. Vị thần còn cho cha tôi một cái một cái móng của chính mình để làm nỏ thần. Nhờ có thêm cái móng đó sẽ giúp nâng sức mạnh của chiếc nỏ lên gấp vạn lần, bắn trăm trúng cả chăm, có thể giết hàng ngàn quân địch. Cha đã giao nhiệm vụ làm chiếc nỏ thần cho một người cao tay, khéo léo, tên là Cao Lỗ. Sau khi Cao Lỗ tỉ mỉ làm xong chiếc nỏ thần, chiếc nỏ trở thành bảo bối quý, lúc nào cũng để cạnh gần bấy giờ, bên Nam Hải có tên Triệu Đà luôn lăm le muốn xâm lược Âu Lạc, nhưng cứ cho quân sang đánh thì đều bị thất bại dưới tay cha tôi. Triệu Đà không từ bỏ, tìm cách khác, ông ta giảng hòa với cha tôi bằng kế mượn con trai của chính mình sang cầu thân và tìm cách phá chiếc nỏ thần của cha tôi. Trong những ngày tháng hòa hiếu, Trọng Thủy gặp tôi và đem lòng yêu tôi. Tôi lúc đó là một thiếu nữ mới lớn, được dân gian truyền rằng là một nàng công chúa xinh đẹp mày ngài mắt phượng. Dần dần tôi cũng xiêu lòng với Trọng Thủy, cha tôi đã quyết định đồng ý gả tôi cho chàng, mà lòng không mảy mai một chút nghi ngờ. Rồi chàng sang chung sống trong cung điện của Âu Lạc. Vào một đêm, hai chúng tôi đi dạo dưới ánh trăng vàng, chàng có hỏi tôi một câu "Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được vậy?" Tôi thành thật mà đáp lại chàng "Có gì đâu chàng, Âu Lạc có thành cao hào sâu, lại có thêm chiếc nỏ thần bắn trăm chết cả trăm, ai mà đánh lại được."Trọng Thủy ngỏ ý muốn xem bảo vật, tôi đã không ngần ngại mà mang nỏ cho chàng xem, chỉ bí quyết của chiếc nỏ, dạy chàng cách dùng. Chàng xem chiếc nỏ một cách tỉ mỉ, nghe tôi kể, rồi để lại đúng vị lâu sau, chàng xin phép vua cha về Nam Hải, chàng đã thuật lại mọi chuyện cho Triệu Đà biết, ông ta đã làm lại chiếc nỏ thần y hệt nhằm đánh tráo với chiếc thật của cha tôi. Trở về Âu Lạc, cha thiết rượu tiệc ăn mừng, chàng đã chuốc rượu cho cha tôi say rồi đánh tráo chiếc nỏ. Hôm sau, tôi có thấy chồng mình khá bồn chồn đứng ngồi không yên, tôi hỏi han " Chàng có gì lo lắng phải không?" Chàng đáp "Phụ vương dặn phải về ngay để lên miền Bắc, miền Bắc xa lắm nàng ạ. Bây giờ đôi ta phải xa nhau không biết bao giờ mới được gặp lại. Nếu chẳng may xảy ra binh đao, tôi biết đâu mà tìm nàng?" Lòng tôi cũng buồn rầu lắm tôi nói mình có chiếc áo choàng lông ngỗng, tôi sẽ rải lông ngông, chàng cứ theo dấu đó mà đến Nam Hải, chàng đưa ngay nỏ thần cho cha mình, Triệu Đà nhanh chóng đưa quân sang đánh. Cha tôi vẫn cậy có nỏ thần mà không phòng bị gì cả, nhưng đến khi nhận ra chiếc nỏ thần đã bị mất, giặc đã vào đến tận chân thành. Cha nhanh chóng leo lên lưng ngựa và mang tôi theo, ngồi sau lưng cha, tôi vẫn ngu ngốc rắc lông ngỗng trên đường. Cha thấy quân giặc vẫn đuổi bám chạy theo sau. Thấy đường núi quanh co, không còn cách nào khác, cha khấn thần Kim Quy cứu giúp. Thần bảo cha tôi rằng " Giặc sau lưng nhà vua đây!"Cha nhận ra, tôi cũng tỉnh ngộ, tôi đau khổ nhận thấy mình thật ngu ngốc, tôi chấp nhận nhận lấy cái chết. Tôi rất ân hận, hận bản thân rất nhiều. Bản thân mình chính là nguyên nhân gây ra cảnh đất mất nhà tan. Tôi trách Trọng Thủy tại sao lại lợi dụng lòng tin của tôi, tại sao lại lỡ lừa gặt tôi. Trọng Thủy yêu thương tôi sâu sắc, vẫn phóng ngựa đi tìm tôi, thấy xác tôi chàng đau đớn vô cùng, chàng khóc trong tuyệt vọng. Chàng đem xác tôi mai táng trong thành rồi tự mình kết liễu cuộc đời tại chiếc giếng ngày xưa tôi thường cũng nhận ra rằng chính tôi và Trọng Thủy cũng là nạn nhân của cuộc chiến này. Từ câu chuyện của tôi, nó đã để lại bài học quý giá về sau về sự cảnh giác. Và tôi cũng muốn nhắn nhủ một điều rằng Hãy yêu thương và xóa tan đi hận các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của có thể tải về tập tin thích hợp cho bạn tại các liên kết dưới đây.
Nhập vai An Dương Vương và kể lại truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng ThủyHóa thân thành nhân vật An Dương Vương để kể lại truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy là dạng bài thường gặp trong chương trình Ngữ văn lớp 10. Trong bài viết này Haotieu xin chia sẻ một số bài văn mẫu đóng vai nhân vật An Dương Vương kể lại câu chuyện An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy hay và chi tiết giúp các bạn hiểu rõ hơn nỗi đau mất 5 bài cảm nhận về nhân vật An Dương Vương siêu hay1. Đóng vai nhân vật An Dương Vương kể lại câu chuyệnTa là An Dương Vương, vị vua của nước Âu Lạc năm nào. Ngồi dưới thuỷ cung ngắm cá bơi lội, nghe tiên nữ hát ca mà lòng ta vẫn âu lo nỗi buồn. Nhớ năm xưa, chuyện ta dựng nước rồi làm mất nước mà đau đớn vô đó, sau khi lên ngôi vua, ta bèn nghĩ việc xây thành. Nhưng khốn đốn thay, xây thành ở đất Việt Thường hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. Nghe nói vì đất nơi này còn vương vẩn những hồn ma của các vị tướng bại trận mà họ không cho ta thuận lợi đắp thành. Ta lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần. Ngày mồng bảy tháng bảy ta bỗng thấy một cụ già từ phương Đông đứng trước cửa thành mà than rằng “ Xây dựng thành này bao giờ cho xong được”. Ta thấy thế, mừng rỡ lắm, đón vào trong điện, thi lễ hỏi lý do đắp thành mãi không xong thì cụ già trả lời “ Sẽ có xứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công”, rồi từ biệt ra lời đó, ngày hôm sau ta đứng ngoài cửa đông chờ đợi, và bất ngờ thấy một con Rùa Vàng nổi lên mặt nước, nói sõi tiếng người, xưng là sứ Thanh Giang, ta mừng rỡ vội vã dùng xe nghênh đón, rước Rùa Vàng vào thành. Nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng, thành sau nửa tháng thì xong. Ngắm nhìn thành mới mà lòng ta vui sướng. Thành rộng hơn ngàn trượng, xoắn ốc nên ta gọi nó là Loa Vàng ở với thành ta được ba năm rồi ra về. Trước khi đi, ta bày tỏ lòng thành kính cảm tạ và hỏi thần nếu giặc đến, làm thế nào giữ nước. Rùa Vàng nghe hỏi rồi tháo vuốt đưa ta, dặn “ Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa”Nghe lời thần, ta đưa Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy và đặt tên là “ Linh quang Kim Quy thần cơ”. Thời gian sau, quân Triệu Đà cử binh xâm lược nước ta, ta lấy nỏ thần ra bắn, làm quân giặc khiếp sợ và thua trận, chạy về Trâu Sơn đắp luỹ và xin bao lâu sau, Đà cầu hôn. Ta gả con gái xinh đẹp Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thuỷ và để cho hắn ở lại cung. Nhưng đó quả thật là sai lầm. Ta không nghĩ đến rằng, con rể lại dụ dỗ Mị Châu ngây thơ cho xem nỏ thần rồi đánh tráo nỏ thần mang về phương được nỏ thần, Triệu Đà mang quân đến đánh. Khi đó ta vẫn chưa biết chuyện, vẫn ung dung chơi cờ vì nỏ thần còn trong tay thì ta chẳng sợ gì. Nhưng éo le thay, khi ta biết nỏ kia không phải nỏ thần thì quá muộn, giặc đã tiến sát thành, ta phải cùng Mị Châu lên ngựa bỏ chạy về phương càng chạy thì ta vẫn thấy giặc đuổi theo sau. Đến tới bờ biển, ta biết đó là đường cùng. Ta bèn kêu rằng “ Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” Rùa Vàng từ dưới nước xuất hiện, thét lớn “ Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Ta bất ngờ quay lại nhìn thấy đường rải đầy lông ngỗng, trên tay con gái Mị Châu là áo lông ngỗng, ta hiểu ra chuyện và vô cùng tức giận. Ta tức giận vừa đau lòng mà tuốt kiếm chém Mị Châu. Mị Châu thấy vậy, bèn khấn với ta “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Dù đau lòng nhưng là một kẻ phản nghịch, tội đồ quốc gia ta không thể tha thứ với cương vị một người đứng đầu đất theo Rùa Vàng xuống biển. Mị Châu con ta chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai ăn vào tạo thành hạt châu. Trong Thuỷ đến đó, thấy con ta đã chết, ôm xác về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Con ta chết, Trọng Thuỷ cũng đau đớn, nhớ mong mà tự tử ở giếng. Nước giếng đó rửa ngọc ở biển Đông thì ngọc vô cùng sáng và đẹpCâu chuyện năm nào được nhân dân ta truyền nhau khiến ta càng day dứt không yên. Chỉ vì những phút giây thiếu cảnh giác mà ta làm mất nước. Đó là bài học xương máu, đau đớn dành cho Hóa thân vua An Dương Vương kể lại câu chuyện ngắn gọnTa là An Dương Vương, vị vua đã xây nên thành Cổ Loa bền vững và đã được thần Kim Quy trao tặng cái lẫy thần nên giữ được bình yên cho muôn dân. Lúc đó, Triệu Đà sang xâm lược nhiều lần nhưng hắn phải thất bại trước cái nỏ thần linh thiêng kì diệu ấy Chỉ cần một mũi tên bắn ra là có biết bao quân sĩ gục ngã. Tức giận, hắn chờ đợi thời cơ; còn ta tự đắc trước những chiến công nên không dè dặt nghĩ đến những âm mưu hiểm độc của Triệu ngày kia, một tên tâm phúc của Triệu Đà mang lễ vật đến xin cầu hòa. Ta nhận lời ngay vì không muốn kéo dài binh đao khói lửa. Từ đó, hắn cho con trai là Trọng Thủy sang lân la với con gái ta là Mị Châu. Trọng Thủy là chàng trai lịch lãm nên hắn dễ dàng lấy được lòng cha con ta. Thế rồi, Triệu Đà chính thức mang lễ vật đến cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thủy. Đã từ lâu Mị Châu cũng phải lòng Trọng Thủy rồi nên ta không có lí do gì mà từ chối. Chúng cưới nhau và sống hết sức thuận hòa hạnh phúc. Nhưng đối với ta, Trọng Thủy có vẻ hơi khác thời gian, Trọng Thủy xin phép về thăm cha rồi không bao lâu quay trở lại. Ta cho quân bày yến tiệc và rót rượu cho Trọng Thủy nhưng hắn từ chối. Ngược lại, hắn lại mời ta uống liên tiếp đến nỗi ta say mèm chỉ thoáng thấy bóng hắn vụt qua rồi ta không biết gì nữa. Đến khi tỉnh lại, ta thấy Trọng Thủy đang ngồi bên cạnh ta cung kính nói– Thưa nhạc phụ, người đã khỏe chưa?– Ta khỏe rồi. Sao con không đến với Mị Châu? Ta thì thào.– Hiền thê đã có nô tì chăm sóc rồi! Hắn nhỏ nhẹ lại nói tiếp– Được rồi, con cứ đến thăm vợ con kính cẩn chào– Xin phép nhạc phụ, con cả những nghi ngờ trong ta từ trước đến nay đã tan biến hết. Đang sống yên vui, bất ngờ Trọng Thủy lại xin về nước khiến Mị Châu buồn bã vô cùng. Chỉ mấy ngày sau, Triệu Đà ùn ùn kéo đại quân sang. Ta ngạc nhiên quá, nhưng tin tưởng vào nỏ thần nên vẫn ung dung ngồi đánh cờ chờ quân giặc đến gần thành rồi bắn luôn. Không ngờ, nỏ thần hết hiệu nghiệm mà quân thù đang đi vào thành. Vừa hoảng sợ và thắc mắc ta không hiểu nổi lí do nào mà nỏ thần không còn ứng nghiệm nữa. Cuối cùng trước tình thế cấp bách ta cùng Mị Châu lên ngựa tháo chạy. Nhưng chạy đến đâu cũng nghe tiếng reo hò quân giặc đuổi theo. Cùng đường, ta hướng mắt về phía biển khơi gọi thần Kim Quy cứu giúp. Bỗng thần nổi lên và dõng dạc nói "Giặc ở sau lưng nhà vua đó!".Ta quay lại nhìn thì chỉ có Mị Châu với chiếc áo lông ngỗng đã trụi cả lông. Ta chợt hiểu ra tất cả. Thì ra bọn giặc dò theo dấu lông ngỗng để đến được đây. Và cũng chính Mị Châu, đứa con gái thơ ngây của ta đã vô tình tiết lộ bí mật nỏ thần cho tên gián điệp Trọng Thủy cho nên ta mới có ngày này. Quá tuyệt vọng, không còn con đường nào khác ta rút gươm ra chém chết Mị Châu rồi tự tử. Nhưng thần Kim Quy lại rẽ mặt nước cho ta đi xuống là câu chuyện sự thật của đời ta, của vua An Dương Vương đã không cảnh giác trước kẻ thù nên cơ nghiệp bị sụp đổ. Ta mong rằng những kẻ kế vị sau này xem đây là bài học xương máu mà giữ Nhập vai An Dương Vương kể lại câu chuyện rồi rút ra bài họcTa là An Dương Vương, vua của nước Âu Lạc. Bây giờ ta đang ở dưới biển nhờ sự giúp đỡ của rùa vàng. Đến bây giờ ta vẫn nhớ như in việc ta đã làm mất nước ta vào tay kẻ thù như thế nào. Bây giờ ta sẽ kể lại cho mọi người chuyện đau lòng ấy mà có thể ta không bao giờ quên khi ta nổ lực xây thành nhưng hễ đắp đến đâu lại lỡ đến đấy. Một ngày nọ, ta gặp được Rùa Vàng và được ngài ấy giúp đỡ. Cuối cùng ta cũng xây được một ngôi thành kiên cố lấy tên là Loa Thành hay Cổ Vàng ở lại ba năm rồi cũng trở về. Trước khi về ngài đã lấy vuốt của mình và trao cho ta rồi bào “Người hãy đem vuốt này làm lẫy nỏ để chế tạo ra nỏ thần và chống lại quân giặc”. Ta cảm tạ Rùa Vàng và tiễn ngài ấy trở về. Sau đó, ta làm theo và giao việc làm lẫy nỏ cho Cao Lỗ. Thế là ta đã có được một chiếc nỏ thần và khi bắn ra thì có một trăm mũi tên bay ra và giết chết hàng trăm quân Triệu Đà tiến quân sang xâm lược nước Âu Lạc, may nhờ có nỏ thần mà ta chiến thắng được Triệu Đà. Sau đó không lầu, Triệu Đà sang cầu thân xin cho con trai của mình là Trọng Thủy được kết thân cùng với con gái của ta là Mị Châu – đứa con gái mà ta hết mực yêu thương. Nhưng vì tình giao hảo giữa hai nước, ta đã đồng ý với hắn. Vã lại, ta nghĩ mình đã có nỏ thần trong ta nên kẻ thù không làm gì nhìn lại Trọng Thủy, ta thấy hắn cũng là một người anh tuấn. Nhìn bề ngoài trông hắn cũng không đến nỗi là người xấu nên ta mới đồng ý gã con gái ta cho hắn, chỉ mong Mị Châu được hạnh phúc. Nhưng vì quá thương con, không nỡ rời xa đứa con thân yêu và sợ khi về nước chồng sẽ không được coi trọng và hạnh phúc nên ta liền nghị với Triệu Đà cho Trọng Thủy sang ở rễ. Nào ngờ, Triệu đà đồng ý ngay mà ta nào biết âm mưu của hắn. Mãi đến sau này, ta mới biết ta đã vô tình tiếp tay cho kế hoạch của thời gian ở rễ, Trọng Thủy luôn tỏ ra là một con người tốt nên ta cũng chẳng mảy may nghi ngờ mà nới lỏng phòng bị. Ta nào ngờ hắn lại lợi dụng đứa con gái ngây thơ của ta. Hắn dụ dỗ Mị Châu dẫn đến nơi cất dấu nỏ thần và đánh tráo. Sau khi đạt được mục đích, hắn xin về nước thăm cha. Mị Châu nghe vậy lòng buồn rười rượi nhưng cũng đồng lâu sau, quả thật Triệu Đà đã mang quân sang đánh. Ta ỷ lại có nỏ thần nên vẫn ung dung ngồi đánh cờ. Đến khi giặc tiến quân đến sát cửa thành, ta mới sai người đem nỏ thần ra bắn. Lúc này, ta mới phát hiện nỏ thần không còn và biết rằng nỏ thần đã bị lấy trộm và thủ phạm là Trọng Thủy – chồng của con gái mình. Thấy thế quân khó chống, ta leo lên lưng ngựa và để Mị Châu phía sau, phi ngựa về hướng Nam. Chạy ra đến biển mà giặc vẫn còn đuổi theo. Ta liền kêu lớn “Rùa vàng ơi mau đến cứu nguy”. Rùa Vàng hiện ra và nói “Giặc ở ngay sau lưng ngươi”. Câu nói ấy làm ta bất ngờ vì phía sau ta chỉ có đứa con gái yêu quý. Nhưng khi nhìn thấy tấm áo lông ngỗng của con gái trở nên xơ xác thì ta liền tỉnh ngộ và nhận ra mọi không muốn nhưng khi nghỉ đến việc nước mất nhà tan, làm hại bao nhiêu người dân vô tội thì ta đã tuốt kiếm xuống tay giết đi đứa con gái ruột của mình. Sau đó nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng mà ta xuống được biển và ở lại đến ngày hôm nay. Sau này, ta biết Mị Châu đã nhận ra lỗi lầm mà mình đã gây nên. Mị Châu nói rằng “Nếu tấm lòng trung hiếu bị người đời lừa dối ta xin nguyện biến thành châu ngọc”. Sau khi chết, xác Mị Châu biến thành ngọc thạch, còn máu được trai ăn vào hóa thành ngọc trai. Điều đó nói lên sự trung hiếu của Mị Châu với đất nước. Sau đó Trọng Thủy cũng đau lòng mà bài học đắt giá này, ta muốn khuyên mọi người không nên chủ quan, khinh địch, dễ tin người, phải biết đặt lợi ích của mọi người lên trên lợi ích của cá nhân để không phải hối hận như Đóng vai An Dương Vương kể lại câu chuyện với ngôi thứ nhấtChuyện xảy ra đã lâu, nhưng mỗi khi nhắc tới, tôi lại không khỏi dằn vặt bản thân đã làm cơ đồ rơi vào tay giặc. Đến bây giờ, nỗi ăn năn, hối hận vẫn còn ám ảnh trong đây, tôi vốn là vua của nước Âu Lạc thân yêu, tên họ Thục Phán. Tôi có xây thành ở đất Việt Thường, nhưng ngặt nỗi đắp tới đâu lại lở ra tới đó. Tôi buồn bã, tôi thất vọng tràn trề. Tôi lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần, mong được sự giúp đỡ. Tôi luôn hi vọng có ai đó giúp tôi trong việc xây thành khó khăn này. Bất ngờ thay, ngày mồng bảy tháng ba, từ phương đông bỗng có một cụ già đến trước cửa thành mà than rằng "Xây dựng thành này biết bao giờ cho xong được!". Tôi mừng rỡ, đoán biết là người tài mà mình đang cần chiêu mộ. Tôi liền sai người đón vào điện, làm nghi lễ chào mừng và bày tỏ nỗi lòng mình. Tôi thành thực mà giãi bày "Ta đắp thành này đã nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?". Nghe xong, có già chỉ đáp "Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây dựng thành mới thành công". Cụ già nói xong rồi từ biệt ra về mà không kịp để tôi hỏi han thêm điều gì tối đêm ấy, tôi trằn trọc, băn khoăn không ngủ được. Tôi suy nghĩ về lời cụ già đó nói. Hôm sau, tôi ra cửa đông sớm, ngóng đợi. Chợt tôi thấy có một con rùa Vàng từ phương đông lại, nổi trên mặt nước. Kì lạ là nó nói sõi tiếng người và tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Tôi mừng rỡ vì biết người mình cần đã xuất hiện. Đúng như lời cụ già đã báo cho tôi trước đó, sứ Thanh Giang nay đã xuất hiện rồi. Tôi lập tức chuẩn bị nghi lễ ,dùng xe vàng rước vào trong xây nhanh hơn tôi nghĩ. Trong vòng nửa tháng, thành đã hoàn thành xong. Thành nhìn đẹp lắm. Tôi vẫn nhớ thành đó rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành hay còn gọi là Quỷ Long Thành. Tôi mừng rỡ khi thành được xây dựng xong. Tôi cũng phần nào an tâm vì sự bình yên cho dân làng. Rùa Vàng ở lại với chúng tôi ba năm rồi từ biệt ra về. Lúc tiễn đưa, tôi đã gửi lời cảm tạ "Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?". Rùa Vàng liền đáp lại "Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, con người có thể tu đức mà kéo dài thời vận. Nhà vua ước muốn ta có tiếc chi". Nói xong, Rùa Vàng bèn tháo vuốt đưa cho tôi và nói "Đem vật này làm lẫy nó, nhằm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo gì nữa". Dứt lời, Rùa Vàng trở về biển nhanh chóng sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy. Tôi gọi nỏ là "Linh quang Kim Quy thần cơ". Chẳng bao lâu sau, như sự lo lắng của tôi, nước có giặc tràn vào. Triệu Đà đem quân đến giao chiến, hòng thâu tóm thành. Tôi bèn lấy nỏ thần ra bắn, trăm phát trăm trúng, quân Đà thua thảm, bèn rút quân về Trâu Sơn đắp lũy không dám đối chiến, viết thư xin cầu sống dân chúng từ đó được yên ổn, xã tắc bình an. Tôi vốn có một cô con gái xinh đẹp, nết na tên là Mị Châu đương độ tuổi kén chồng. Lúc ấy, Đà sang cầu hôn. Tôi vô tình đồng ý mà không mảy may nghĩ tới mối thù xưa. Tôi cứ nghĩ cuộc hôn nhân này là môn đăng hộ đối, là vừa lứa xứng đôi, các con sẽ trăm năm hạnh phúc. Nhưng tôi đã lầm. Đây chỉ là một kế của Đà hòng cướp đoạt nỏ thần của tôi. Vậy mà khi ấy, tôi chẳng hề để ý. Mị Châu là đứa con gái ngoan ngoãn, là một người vợ hiền hết mực thương chồng. Trong một lần Mị Châu cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, Trọng Thủy đã tráo nỏ thần đem về phương Bắc, lấy lí do thăm cha. Lúc ấy, tôi vẫn không hề biết rằng nỏ thần đã bị cô con gái thân yêu của mình vô ý trao tay bao lâu sau ngày Trọng Thủy về phương Bắc, Triệu Đà đem quân sang đánh. Tôi cũng không ngờ Đà vẫn còn nặng thù với việc thua ngày xưa. Nhưng tôi đã có nỏ thần trong tay, tôi ung dung, thản nhiên ngồi đánh cờ. Tôi mặc kệ Đà đánh chiếm ra sao. Chỉ khi Đà cho quân tiến sát vào, tôi mới đem nỏ thần ra đánh. Nhưng... nỏ thần đâu? Kia chỉ là cái nỏ rất bình thường. Tôi hoảng loạn khi nỏ thần bị đánh cắp. Tôi cùng con gái bỏ chạy về phía phương Nam. Tôi và Mị Châu cứ chạy, Mị Châu cứ lặng lẽ rải lông ngỗng trên đường mà tôi không hề biết. Chạy đến bờ biển, đường cùng, tôi bèn kêu lớn "Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu". Rùa Vàng khi ấy mới hiện lên và nói "Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó". Tôi quay qua Mị Châu, không khỏi sững sờ khi con gái mình chính là giặc, chính là kẻ đã đưa mình đến bước đường cùng. Chẳng nghĩ ngợi, đắn đo, tôi tuốt kiếm chém Mị Châu, máu chảy lênh láng. Tôi cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn tôi xuống đang sống dưới hải cung, nhưng không khỏi thương tiếc về đất nước mình. Tôi đã lầm lỡ, đã quá tự tin, đã không hề cảnh giác với kẻ thù, để khi mọi chuyện lỡ rồi cũng không còn đường rút. Hi vọng mọi người đừng ai sơ ý giống tôi, cũng đừng ai mất cảng giác như tôi để chuyện xấu không xảy các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của có thể tải về tập tin thích hợp cho bạn tại các liên kết dưới đây.
Hướng dẫn Đề bài Sau khi được học xong tác phẩm An Dương Vương Mị Châu- Trọng Thủy, em hãy đóng vai nhân vật Mị Châu để kể lại truyền thuyết An Dương Vương Mị Châu – Trọng Thủy Bấy giờ cha ta là vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa để ngăn chặn sự xâm chiếm lãnh thổ của giặc phương bắc Triệu Đà. Khốn nỗi thành nay xây mai lại đổ biết bao nhiêu người phu này đến người phu khác đều lần lượt đến rồi lại đi. Mỗi bữa cơm thấy vua cha buồn rầu không nói lòng ta thương cha vô hạn. Một hôm cha ta lập đàn tế mong trời đất phù hộ để xây được thành và bảo vệ đất nước và nhân dân. Một cụ rùa đến thành tự xưng là thần Kim Quy, sứ thanh giang đến để dạy cách xây thành. Tấm lòng yêu nước thương dân của vua cha đã động lòng trời đất. Sau khi xây thành xong, thần Kim Quy còn tặng cha ta một cái vuốt vàng và bảo hãy làm nó thành một chiếc nỏ thần. Chiếc nó ấy sẽ giúp cho vua cha ta có thể bảo vệ cho đất nước này. Vua cha nghe lời thần và sai tướng Cao Lỗ rèn chiếc nỏ thành một chiếc nỏ lớn. Mấy hôm sau Triệu Đà đem quân sang xâm chiếm nước ta, vua cha sai người mang nỏ thần ra bắn. Lạ kì thay mũi tên nào từ chiếc nó thần bắn ra đều trúng rất nhiều người, mũi nào mũi nấy đâm sâu vào tim vào bụng lũ cướp nước. triệu Đà thua trận liền rút quân về nước. Trong thành vua cha lấy làm hài lòng và hết mực biết ơn thần Kim Quy đã giúp đỡ. Vài hôm sau Triệu Đà lại đến, nhưng lần này hắn không đem quân đến đánh mà lại đến xin hòa và muốn kết thân. Hai bên vua cha nói chuyện với nhau hồi lâu và ngỏ ý muốn cho ta và người con trai của Triệu Đà kết duyên chồng vợ. Ban đầu ta hơi lo lắng nhưng phận nữ nhi cha mẹ đặt đâu con ngồi đó nên cũng đành ưng thuận. Tuy nhiên khi nhìn thấy một người con trai khôi ngô tuấn tú, nét mặt hiền lành ta lấy làm bằng lòng lắm. Ngày qua ngày ta có một cuộc sống hạnh phúc khi đất nước yên bình cha già vui mừng và đặc biệt ta có thêm một người chồng yêu thương ta, chiều chuồng ta hết mực. Ta nhìn thấy trong mắt chàng, cảm nhận được những hành động chăm sóc của chàng là tình yêu lớn dành cho ta. Trọng Thủy có hỏi ta về chiếc nỏ thần, ta liền kể lại câu chuyện về rùa vàng và chiếc nỏ thần ấy. Ta tin tưởng chàng vì chàng yêu ta, ta còn cho chàng biết chỗ cất dấu và cho chàng xem qua. Một hôm nọ chàng xin vua cha về nước thăm cha Triệu Đà của mình. Ngặt nỗi ta không thể theo chàng. Chàng dặn nếu có gì thì phải mặc áo lông ngỗng đi tới đâu rắc lông ngỗng tới đó để chàng tìm ta. Ta cũng không thắc mắc nhiều chỉ nghĩ rằng chàng yêu ta đến mức chỉ một ngày đi cũng sợ mất ta nên ta ngoan ngoãn vâng lời. Ngay sau khi Trọng Thủy đi không lâu, vua cha Triệu Đà mang quân đến. Ta không biết có chuyện gì xảy ra, hai bên nước đánh nhau hồi lâu. Ta không thấy Trọng thủy đâu không biết chàng có bị làm sao trên đường về không. Vua cha An Dương Vương và ta lên ngựa chạy khỏi thành, chạy về phía biển để cầu cứu thần Kim Quy. Nhớ lời chàng Trọng Thủy đi tới đâu ta rắc lông ngỗng tới đó. Đi tới biển thần Kim Quy hiện lên và chỉ vào mặt ta mà nói “giặc ở sau lưng ngươi kìa”. Lập tức vua cha tung gươm lên cao, ta ngạc nhiên sững sờ nhìn theo gươm và nhìn vào mắt cha mình không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Theo Topics Cảm nhận cuộc sống hành động hạnh phúc lòng yêu nước Nhân vật Mị tình yêu
nhập vai mị châu kể lại chuyện an dương vương